Thứ Ba, 12 tháng 11, 2013

Thông báo của Đặng Chí Hùng

Kính thưa quý bạn đọc !

Mục đích những loạt bài “Những sự thật không thể chối bỏ” và “Những sự thật cần phải biết” của cá nhân tôi là nhằm sáng tỏ lịch sử để người dân thấy đâu là chân, đâu là giả. Từ đó toàn dân tộc Việt Nam cần phải đứng lên từ những hoang tàn, đổ nát của lịch sử bán nước hại dân do cộng sản đem lại để lật đổ chế độ cộng sản hiện nay trước nạn hán hóa đang đến gần.

Mặc dù có nhiều đánh phá từ phía cơ quan an ninh cộng sản, dư luận viên ngay trên Dân Làm Báo và rất nhiều trang mạng của họ, thậm chí là Trần Chung Ngọc nhưng họ không chỉ ra được những gì tôi viết sai mà chỉ nhằm mục đích đánh phá cá nhân, chửi bới. Vì vậy tôi không bao giờ viết bài phản biện họ vì với tôi, đó là những điều không đáng mất thời gian của chúng ta. Tôi muốn giành toàn bộ tâm lực cho công việc lật đổ cộng sản Việt Nam, chống Tàu xâm lược.

Thậm chí cách đây 2 ngày còn có blogger có cái tên rất chi là “Đạo đức Hồ Chí Minh” – Khoaito còn viết như thế này: "Theo dõi các bài viết trên trạng mạng “dân làm báo” thời gian qua, chúng ta thấy cái tên Đặng Chí Hùng đã trở nên quen thuộc bởi loạt bài viết “Những sự thật không thể chối bỏ” (từ phần 1 đến phần 15); “Những sự thật cần phải biết” (từ phần 1 đến phần 28); “Chúng ta phải làm gì” (từ kỳ 1 đến kỳ 6). Đọc những bài viết này, thú thực là tôi chỉ muốn đem con người này ra chém làm trăm mảnh cho bõ tức, hả giận”.




Nhưng thậm chí cả bài viết dài 1 trang A-4 của tác giả này không hề có 1 dẫn chứng nào chứng tỏ tôi viết “xuyên tạc” mà chỉ dừng lại ở những lời chửi bới đầu đường xó chợ. Nhưng tôi không cho đó là điều quá quan trọng !. Chỉ muốn nhắn nhở các bạn DLV nên lịch sự hơn trong ngôn ngữ và cả trong cách hành xử cho đúng với tư cách của một người phản biện đó là : Đi vào trọng tâm vấn đề đúng – sai.

Trong thông báo này tôi xin thông báo một tin như sau:

Mới ngày hôm nay, một người bạn cho tôi biết trên mạng có 1 website mang tên: dangchihung (dangchihung.blogspot.com).

Tôi xin khẳng định ! 

Blogs có tên Đặng Chí Hùng (đường links và hình ảnh chụp bên dưới) không phải của tôi. Nếu anh chị em trong BBT đó có tinh thần chống cộng thì tôi xin hoan nghênh và cũng xin cảm ơn về những lời nói tốt giành cho cá nhân tôi, nhưng tôi xin nói rõ:

- Tôi không chịu trách nhiệm về các thông tin trên blog:http://dangchihung.blogspot.com/ vì nó không phải của tôi và tôi không hề viết những ý kiến trên website đó.

- Mong anh chị em BBT của blogs mang tên “Đặng Chí Hùng” nói trên không dùng bút danh của Đặng Chí Hùng vì như vậy rất dễ gây hiểu lầm trong vấn đề đấu tranh.

- Tôi không giành thời gian để đánh phá người đấu tranh khác mà giành thời gian để lật đổ cộng sản.


Hình chụp từ blog: Dangchihung.blgspot.com

Hình chụp từ blog: Dangchihung.blogspot.com

Xin chân thành cảm ơn bạn đọc !

11/11/2013

Đặng Chí Hùng gửi Danlambao

Cuộc cách mạng cho Việt Nam - Hãy chuẩn bị ngay từ bây giờ

Nguyên Thạch (Danlambao) - Vừa rồi, "Lú nhỏ" tui có thảo một bài "Quân sư quạt mo và cố vấn Hoa cứt lợn" cho "Lú lớn" biết một vài đường binh để mà tính toán cho hậu sự của cái ngày đảng cộng sản tan rã. Sự sụp đổ này sẽ phải đến từ hai nguồn. Thứ nhất và cũng là nguồn có xác xuất xảy ra cao nhất, đó là chính nội bộ bản thân đảng cộng sản sẽ tự đấu đá và đưa đến giải thể. Thứ hai là từ nguồn sức mạnh của quần chúng sẽ đứng lên để đạp đổ bộ máy tà quyền một cách toàn diện để thay vào là một chính thể Tự Do Dân Chủ và Đa Đảng Đa Nguyên.

Hôm nay, người viết xin lập lại. Ðảng cộng sản nên hiểu rằng, dân chúng cũng là người và nhất là chúng ta đã bước vào thế kỷ thứ 21 hơn một thập kỷ qua, thế kỷ của Nhân Bản, Dân Chủ và quyền làm người. Không như nhiều thế kỷ trước, khi ấy những cơ chế bưng bít đã có nhiều điều kiện khá thuận lợi để hoành hành. Thời vàng son của đế chế cũng như độc tài toàn trị sẽ không còn chỗ đứng khi nhân loại đã và đang bước vào những sinh hoạt văn minh, từ đó, con người đã quen dần cũng như đã thích nghi với môi trường mới. Những trào lưu nào đi ngược lại với sự thích nghi ấy, sẽ hoàn toàn phải đối mặt với sự phản kháng của tập thể nhân loại trên phạm trù toàn thể thế giới.

Ngày xưa, muốn truyền một thông tin như trát lệnh của vua quan, người ta phải mất hàng tháng để truyền đạt. Hôm nay, với sự phát triển của tin học, tin tức sẽ truyền đi và được cập nhật trong tích tắc. Bên cạnh đó, con người có thể tìm hiểu nguồn dữ liệu nhằm để giải đáp những thắc mắc của mình một cách tương đối thỏa đáng mà không cần phải mất nhiều thời gian cũng như phải đối mặt với sự nguy hiểm. Người dân bây giờ không còn mụ mị như khoảng thời gian của 1945-1975 hay ngờ nghệch, mất định hướng của những năm 1975-2005 nữa. Bây giờ, mọi sự gian dối, lừa mị, bưng bít sẽ bị mãnh lực của mạng lưới toàn cầu phá toạc vỡ tung.

Tư duy đúng đắn là tư duy có cơ sở khoa học, cũng như có sự so sánh đa chiều. Tư duy của con người ngày hôm nay là tư duy của sự độc lập, trong sáng và minh mẫn bởi chính nó đã không còn bị huyễn hoặc hay bị ảnh hưởng bởi những thế lực ma mãnh gian tà. Nói một cách rõ nét hơn là dân Việt ngày hôm nay không còn tin tưởng hay bị ảnh hưởng bởi một nhà cầm quyền phi đạo đức, phi nhân bản, phi chính nghĩa nữa. 

Như đã nêu trên, đã là một con người thì ít nhiều, ai cũng có trong bản ngã tính chất tham sân si, ai cũng có lòng tự trọng, sự tự ái cũng như sự nóng giận. Khi người dân đã khám phá ra rằng từ lâu họ đã bị lường gạt, bị đầu độc và bị cưỡng chế dưới ách cai trị của độc tài và gian xảo thì họ hoàn toàn có cái quyền phản ứng, hầu lấy lại những gì mà họ đã mất, đó là lẽ đương nhiên. Phản ứng từ sức mạnh của quần chúng là những phản ứng vô biên cùng mức độ vô lường của nó mà không một thế lực nhà nước nào có thể cưỡng chống lại được.

Nắm biết được những thực tế từ thực thể xã hội cùng xu thế của nó, người làm chính trị, người nắm trong tay quyền lực của bộ máy cầm quyền phải rất là minh mẫn và thức thời. Nếu nắm chắc được quy luật lô-gic của đời sống, của vạn vật là luôn thay đổi theo dòng thời gian, nếu tự mình khẳng định rằng trên đời, không có gì là vĩnh viễn, thực tế hơn nữa, nếu biết rằng chế ðộ bất chính nào cũng phải đối mặt với ngày tàn của nó thì người làm chính trị, người nắm quyền bính ắt phải tiến hành ngay những bước chuẩn bị cần thiết.

Sự chuẩn bị nói trên chẳng những chỉ nêu lên nét thông thái thức thời của bản thân mà còn là hành động cứu vớt cho rất nhiều thành viên cho gia đình và cả giòng họ. Ngoài ra, bước chuẩn bị này còn là những tiền đề cho những động thái mang tính trách nhiệm và nhân đạo hầu lập công cứu giúp cho cả một dân tộc để phần nào chuộc lại những lỗi lầm ân oán xưa cũ. Nếu làm được như vậy, tôi hoặc nhiều người khác sẽ cam đoan rằng, nhân dân sẽ không khiển trách, kết tội mà ngược lại còn mang ơn là đàng khác.

Nếu nhận thức được rằng tuổi thọ của chế độ mà quí vị đang cầm nắm sẽ không còn được bao lâu thì một người mẫn thức phải đem tất cả sự việc hiện tại và tương lai gần của những tháng ngày cuối cùng mà đặt lên bàn cân, để cân đo đong đếm, xem coi cái lợi và cái hại nghiêng về bên nào?. Giàu thì cũng đã giàu rồi, với thời gian ngắn ngủi còn lại, nếu tham lam thì sẽ giàu thêm được bao nhiêu?. Đó là chưa nói đến việc, nếu tính toán mụ mẫm, sai trái, đôi khi còn phải gánh lấy hậu quả khôn lường,điều đó chẳng những tiền mất mà tội còn mang, cộng theo cái xú danh mà lịch sử sẽ nguyền rủa đời đời.

Trong khoảng thời gian gần đây, dư luận từ nhiều phía, phía đảng cũng có mà phía dân cũng không thiếu. Nếu đã có cơ hội đón nhận được những lời thỉnh giảng mà vẫn còn chưa nhận thức do tính ù lì, kiêu ngạo, lòng hãnh tiến thì sau này cũng đừng nên có lý do gì để tỏ lời trách móc.

Những quan chức trong guồng máy hiện hành, chớ vội cho rằng bản thân người viết chưa am hiểu về phương thức tổ chức của quân đội và công an dưới thể chế chuyên chế vô sản mà hệ thống an ninh của nó như một mạng nhện chồng chéo, bản thân của quan chức nào cũng bị sự theo dõi giám sát lẫn nhau khiến họ tự buộc chặt với cái bóng ma của cơ chế, tưởng chừng như không bao giờ thoát khỏi. Sự sợ hãi bao trùm, khiến họ không thể nào nhúc nhích!. Ngày hôm nay, từ nhận thức về con ma vô hình ấy đã không còn là một uy quyền tối thượng nữa, từ đó, tuy duy đã được thay đổi nhiều, nhận thức thay đổi sẽ đưa đến hành động cũng thay đổi. Thiết nghĩ, người nắm quyền lực, nếu khéo léo, biết vận hành khôn khéo thì cũng sẽ có được những bước thành công. Hãy tự tin và sớm thoát khỏi cái bóng ma huyễn hoặc mà can đảm lên để hành động. Chớ phụ lòng của cả khối dân tộc đang mong chờ.

Người viết không hề chủ quan, thiết nghĩ bây giờ thời điểm thích ứng nhất, dẫu biết rằng nhiều khó khăn, còn nhiều điều chưa thuận tiện nhưng với sự chuẩn bị kín cẩn, tạo mối liên hệ mật thiết, khi thời cơ đến là thực hiện. Ðó là nhân cách và cũng có thể gọi là đạo đức và hành vi cách mạng. Những ai đang có trong tay quyền bính hãy chuẩn bị tư thế ngay từ bây giờ, kẻo không sẽ muộn.

Thứ Bảy, 9 tháng 11, 2013

Đổi mới là mệnh lệnh của thời đại

04/11/2013 09:10 (GMT + 7)
TT – “Tại kỳ họp lần này, Quốc hội tiếp tục thảo luận, xem xét thông qua việc sửa đổi Hiến 1pháp, đây là cơ hội lịch sử để chúng ta thiết kế nền quản trị quốc gia đáp ứng được yêu cầu của thời đại, tạo ra xung lực mới cho sự phát triển”.
TS Nguyễn Sĩ Dũng (phó chủ nhiệm Văn phòng Quốc hội) nói trong cuộc trò chuyện với Tuổi Trẻ.
* “Nếu không đổi mới, chắc chắn VN sẽ khó khăn, tôi nghĩ Quốc hội cũng cảm nhận được điều này”. Bộ trưởng Bộ Kế hoạch – đầu tư Bùi Quang Vinh đã phát biểu như vậy tại Quốc hội. Cá nhân ông cảm nhận ra sao?
- Cá nhân tôi cảm nhận là Bộ trưởng Bùi Quang Vinh đã nói rất thẳng thắn và rất đúng đắn. Chúng ta đang sống trong một thế giới đã thay đổi. Sống theo cách cũ, vì vậy sẽ không có tương lai. Điều đáng lưu ý là không chỉ thế giới đã rất khác, mà những người dân cũng đã rất khác. Tôi có cảm giác là hàng chục triệu người dân đã hội nhập với thế giới hiện đại nhanh chóng và hiệu quả hơn so với nhiều thiết chế đang vận hành nền quản trị quốc gia của chúng ta.
Sự khó khăn mà Bộ trưởng Vinh phát biểu tại Quốc hội có thể đến không chỉ từ việc phải cạnh tranh toàn diện với các quốc gia khác, mà còn từ những mong đợi và những đòi hỏi lớn hơn của những người dân đã hiểu biết và trưởng thành vượt bậc.
* Vậy thì đổi mới tiếp theo nên bắt đầu từ đâu, theo ông?
- Mọi chuyện đều nên bắt đầu từ chính cái đầu của chúng ta. Không có sự cầm tù nào thê thảm và tàn hại bằng sự cầm tù tư duy của con người. Đổi mới tư duy chính vì vậy phải là bước đầu tiên, cũng là bước tiếp theo cho mọi sự đổi mới mà chúng ta tiến hành. Đây rõ ràng không phải là điều gì quá mới mẻ. Điều này đã được Đảng ta nói tới hàng chục năm nay. Vấn đề là thiếu những kiến thức mới, những khái niệm mới…, thật khó lòng đổi mới được tư duy. Quả thật, làm sao có thể đổi mới tư duy bằng cách xào nấu lại các giáo điều xưa cũ?!
Khi đã có tư duy mới, cái cần phải đổi mới trước tiên có lẽ là nền quản trị quốc gia. Thế giới đã chứng minh rằng không phải tài nguyên, vị trí địa lý hay thời tiết mà thể chế do con người xây dựng là nguyên nhân căn bản của sự thành công hay thất bại về kinh tế, cũng như về phát triển nói chung. Nhân đây, câu chuyện thành công của đội bóng U-19 gợi cho chúng ta điều gì? Phải chăng là nếu tổ chức được mô hình theo chuẩn quốc tế thì “thấp bé nhẹ cân” như các cầu thủ VN vẫn có hi vọng, và ngược lại?
Tại kỳ họp lần này, Quốc hội tiếp tục thảo luận, xem xét thông qua việc sửa đổi Hiến pháp, đây là cơ hội lịch sử để chúng ta thiết kế nền quản trị quốc gia đáp ứng được yêu cầu của thời đại, tạo ra xung lực mới cho sự phát triển.
* Ông hình dung nền quản trị quốc gia “đáp ứng được yêu cầu thời đại” như thế nào?
2- Tôi hình dung nền quản trị quốc gia hiện đại phải đáp ứng mấy yêu cầu sau: 1- Bảo đảm pháp quyền. 2- Bảo đảm trách nhiệm giải trình. 3- Bảo đảm sự minh bạch. 4- Bảo đảm sự tham gia và sự dự phần của mọi người dân. Tất nhiên, những điều nói trên hoàn toàn không phải là sáng kiến của cá nhân tôi. Đó là sự tổng kết của Liên Hiệp Quốc từ kinh nghiệm của nhiều quốc gia trên thế giới.
Như vậy, đòi hỏi đầu tiên đối với việc đổi mới nền quản trị quốc gia là phải xác lập cho bằng được pháp quyền (cách mà chúng ta hay gọi hơn là xây dựng nhà nước pháp quyền). Đây là một vấn đề mang tính kỹ trị. Ý chí chính trị phải kết hợp với kiến thức và sự hiểu biết mới giúp chúng ta xây dựng được pháp quyền.
* Ông có đề xuất mô hình cụ thể nào không?
- Khoảng một vài tuần trước khi cố thủ tướng Võ Văn Kiệt qua đời, bác Kiệt có gọi tôi lên trò chuyện, và tôi đã trình bày một số suy nghĩ của mình. Lúc bấy giờ tôi có nói rằng cần phải hết sức tránh việc hình thành hai nhà nước trong một đất nước. Chúng ta có thể nghiên cứu nhất thể hóa sâu rộng hơn, tương tự như Singapore chẳng hạn, để Đảng lãnh đạo thật sự “hóa thân” vào Nhà nước. Làm được điều này, chúng ta không chỉ tránh được rủi ro của những xung đột không đáng có giữa Đảng và Nhà nước, mà còn xác lập được chế độ trách nhiệm giải trình hữu hiệu, bảo đảm được quy trình ban hành quyết định minh bạch, rõ ràng và đỡ tốn kém thời gian, công sức hơn. Tôi cho rằng hiện nay đây là nhiệm vụ đầu tiên và quan trọng nhất để đổi mới nền quản trị quốc gia của chúng ta.
Thật ra, nhất thể hóa cũng là chủ trương đã được Đảng ta đề ra, chứ không phải là điều gì mới mẻ cả. Tuy nhiên, đây là một vấn đề rất lớn. Nhiều khía cạnh của vấn đề lại không thể chỉ giải quyết bằng mỗi một việc là sửa đổi Hiến pháp. Tất nhiên, có những vấn đề cơ bản khác nếu không được thiết kế trong Hiến pháp thì rất khó mở đường cho việc đổi mới tiếp theo nền quản trị quốc gia.
* Văn kiện Đại hội XI có nói đến việc “tạo môi trường dân chủ thảo luận, tranh luận khoa học, khuyến khích tìm tòi, sáng tạo, phát huy trí tuệ của cá nhân và tập thể trong nghiên cứu lý luận”. Vấn đề nêu trên chạm đến những lý luận rất lớn và sẽ có nhiều ý kiến khác nhau, ông nghĩ tính khả thi đề xuất của mình đến đâu?
- Người Anh có câu ngạn ngữ: “Bạn không bao giờ biết bạn có thể làm được điều gì, trước khi bạn thử làm điều đó”. Tôi nghĩ rằng người Anh không phải là không có lý.
VÕ VĂN THÀNH thực hiện
3

4

Thư ngỏ và lời kêu gọi của một Con Dân Nước Việt

Hồ Thanh Phát (Danlambao) - Kính thưa đồng bào 

Được sinh ra mang dòng máu đỏ da vàng, tôi được truyền dạy rằng Dân Tộc Việt Nam chưa từng biết khuất phục trước ngoại xâm hay bất cứ bạo lực từ phía nào. Lời dạy ấy đến nay vẫn không thay đổi. Cho dù dân tộc chúng ta từng trải qua nhiều thế kỷ bị nô lệ hay đô hộ vì sức yếu nhất thời, nhưng rồi chủ quyền và toàn vẹn lảnh thổ đã được khôi phục nhờ tinh thần bất khuất của toàn dân.

Một quốc gia thống nhất là cơ hội ngàn đời cho sự vươn lên của dân tộc. Việt Nam đã may mắn để có được sau nhiều năm đau thương, tương tàn đúng ra không cần có. Một chính quyền lãnh đạo đất nước nếu không vì cá nhân hay bè đảng là phúc đức cho dân tộc, đảng cộng sản Việt Nam đã không thực hiện đúng cho nguyện vọng toàn dân, cái gì cũng gọi là của nhân dân nhưng dân chưa bao giờ được hưởng, quyền lợi toàn bộ gom về phục vụ cho một đảng để mãi mãi tồn tại. 

Kính thưa đồng bào,

Từ sau ngày 30 tháng 4 năm 1975, đảng cộng sản Việt Nam đã tự cho thế giới thấy rằng đảng này không hề vì quốc gia dân tộc mà hiện thân chỉ để thực hiện ý đồ của cộng sản quốc tế nhằm thôn tính Nam Việt Nam trước, rồi sau đó nhuộm đỏ phương đông như vết dầu loang. 

Chiêu bài “giải phóng” được tung ra nhằm qui tụ những người yêu nước trong một miền Bắc bị bưng bít và những người có lý tưởng dân tộc vùn lên chống “đế quốc” Mỹ ở miền Nam, thực ra nếu không có cuộc nam tiến từ miền bắc thì đã chẳng có người lính Mỹ nào ở Việt Nam cả. Hoa Kỳ biết rõ đây không phải là cuộc nội chiến đơn thuần giữa những người Việt với nhau mà là sự bành trướng của chủ nghĩa cộng sản, cần giúp chính phủ Việt Nam Cộng Hòa chận đứng hiểm họa. Người Mỹ đến Việt Nam với chiến cụ tối tân nhưng kiến trúc xây dựng thật thô sơ không kiên cố như thực dân Pháp ngày trước. Trong thế liên hoàn, Phi Luật Tân cũng là một quốc gia đồng minh chấp thuận cho Hoa Kỳ đặt 2 căn cứ Clark và Subic bay yểm trợ cuộc chiến. Sau chiến tranh Việt Nam, Hoa Kỳ sẳn sàng rút khỏi 2 căn cứ này theo nguyện vọng của nhân dân Phi Luật Tân, đây chứng minh rằng Hoa Kỳ không có nhu cầu chiếm đóng, rõ ràng là như vậy. 

Song song đó, có những nước lớn với mưu đồ bành trướng luôn tạo xung đột nên nhất thiết mọi quốc gia yêu chuộng hòa bình cần liên kết tạo sức mạnh, điển hình là Phi Luật Tân nay đích thân mời Hoa Kỳ trở lại với chiếc ô dù thật to và nhiều cam kết bảo vệ, Nhật Bản cũng vậy, Việt Nam tại sao không? Là đồng minh với Hoa Kỳ như Mã Lai, Nam Hàn, Indonesia, Thái Lan, Phi, Nhật Bản, Úc, Singapore, Đài Loan… đâu mất một tấc đất nào vào tay đế quốc, tại sao chúng ta sợ?

Sau gần 4 thập niên thống nhất đất nước, đảng cộng sản Việt Nam đã làm gì cho dân tộc? Qua Hội Nghị Trung Ương 8, tổng bí thư đảng cộng sản Nguyễn Phú Trọng đã thú nhận: 

“Kinh tế vĩ mô chưa thực sự ổn định vững chắc; vẫn tiềm ẩn nguy cơ lạm phát tăng cao trở lại; nợ xấu ngân hàng còn cao, hoạt động của một số tổ chức tín dụng chưa thật an toàn; cân đối ngân sách khó khăn. Thị trường bất động sản, thị trường chứng khoán còn trầm lắng. Sản xuất doanh nghiệp gặp nhiều khó khăn, số doanh nghiệp giải thể, ngừng hoạt động hoặc hoạt động cầm chừng còn lớn. Khu vực công nghiệp tăng trưởng chậm lại. Sản xuất, xuất khẩu một số mặt hàng nông sản chủ lực gặp khó khăn về thị trường và giá cả…Công tác phòng, chống tham nhũng, lãng phí chưa đạt được mục tiêu ngăn chặn, từng bước đẩy lùi và quyết tâm giữ vững định hướng xã hội chủ nghĩa của nền kinh tế trên cơ sở phát huy vai trò của nhà nưóc…" 

Thành quả chỗ nào thưa các ông, nếu có chăng cũng chỉ bằng khi miền nam chưa được “giải phóng” đến bao giờ Việt Nam mới khá nổi!

Một sự thất bại hoàn toàn mà người lãnh đạo đảng không biết hổ thẹn khi báo cáo, đúng ra phải cúi đầu nhận tội vì danh dự và trách nhiệm của mình đã không có khả năng đưa đất nước trở thành “con rồng con hổ” lại cam tâm làm những con “sên” con “sán” bòn rút thân xác Mẹ Việt Nam. 

Đảng cộng sản Việt Nam luôn sợ diễn biến hòa hình, sợ bạo loạn lật đổ, sợ đa đảng, sợ đối lập, sợ mất quyền lực và sợ luôn cả dân giàu nước mạnh. Nếu nhà nước biết lo cho dân, không bán đứng lãnh hải; lãnh thổ thì có gì phải mất ăn mất ngủ. 

Giải phóng được miền Nam, chính quyền mới đập tan những gì nơi đây đã xây dựng đồng thời ra sức đánh sập nền kinh tế tự do để rồi hàng chục năm sau cố dựng lại đống đổ nát đó kèm theo cái đuôi “kinh tế thị trường xã hội chủ nghĩa”, chính đảng cộng sản Việt Nam đã phá hoại đất nước từ đó cho đến ngày hôm nay và đem lại thảm trạng cho dân tộc như sau:

- Một quốc gia tự do dân chủ không hề có những vị lãnh đạo tôn giáo phải ngồi tù vì muốn được tự do hành đạo, tài sản giáo hội bị tịch thu, đúng ra nhà nước phải quan tâm cấp thêm đất đai để xây dựng nơi thờ phượng theo nhu cầu của xã hội.

- Một đất nước phát triển cần có nhiều chất xám, sinh viên ra trường không được trọng dụng phải kiếm sống bằng nghề tay trái. Du học sinh tốt nghiệp lo tìm vợ kiếm chồng nơi xứ người mong cuộc sống tốt hơn, thật bẽ bàng.

- Công nhân bị bóc lột, chủ nhân ngoại nhập đánh đập dân mình trên đất ta, nhà nước làm ngơ. Lao động xuất khẩu lương bổng bị đầu nậu cắt xén ăn chận, làm sao sống.

- Nông dân không đất cấy ruộng cày, mảnh vườn khai phá bằng mồ hôi nước mắt nay trở thành dân oan với đồng tiền bồi thường rẻ mạt, không còn chổ dung thân, quá bất hạnh.

- Bộ đội là những anh hùng dân tộc, hy sinh nơi tuyến đầu để bảo vệ tổ quốc, không được tưởng niệm; truy điệu, bia mộ bị đục phá không được ghi nhận vì đã đánh bại được quân thù, thật xót xa.

- Chiến sĩ công an bị sử dụng như công cụ đàn áp dân lành thay vì bảo vệ, đôi tay dính máu đồng bào, khó rửa.

- Giới doanh thương nỗ lực làm ăn đóng góp cho nền kinh tế nước nhà bị đảng coi như bầy heo được nuôi cho béo để rồi dàn cảnh đánh sập, trở nên trắng tay.

- Những người có quyền chức mặc tình ăn chặn, nhận của đút lót, biển thủ công quỹ, tham nhũng bất công, bắt bớ giam cầm cả những người lương thiện, yêu nước. Hàng chục tỉ đô la lọt vào túi riêng của nhiều lãnh đạo cao cấp, số tiền kếch xù này đúng ra để lo dân nghèo, bù đắp cho những người thương binh chịu nhiều phần mất mát vì tổ quốc. 

Thật nghi ngờ, theo lệnh ai mà đảng chỉ có thể được phép lên tiếng xác nhận chủ quyền biển đảo cho có lệ chứ không được tỏ thái độ hay hành động nào nhằm bảo vệ chủ quyền của mình để không bị mất. Cộng sản Việt Nam mua sắm tàu ngầm, phi cơ chiến đấu có phải để phòng thủ không? Hay đã có thỏa thuận ngầm sẳn sàng hợp lực với kẻ thù phương bắc chống lại lân bang khi biển Đông dậy sóng, điều gì mà họ không dám làm.

Ai có thể phủ nhận người cộng sản Việt Nam không yêu nước, trách nhiệm của mọi người dân, mỗi đảng phái là chống ngoại xâm, chống độc tài tàn bạo theo từng thời kỳ của lịch sử. Chúng tôi rất kính phục những đảng viên cộng sản có lương tâm không vì bổng lộc, sẳn sàng đứng về phía dân tộc đã dám lên tiếng phản đối; vạch mặt chỉ tên những ai đang đưa Việt Nam đến dần hố diệt vong, Đây là những người cộng sản có ý thức, những con người thật sự yêu nước. “Sổ hưu”, sợi dây oan nghiệt mà đảng cố tròng vào cổ những đồng chí từng sát cánh để phải cùng họ gánh phần tội ác cho đến cuối đời và cũng để làm chùn bước người sĩ phu. 

Đảng cộng sản luôn qui chụp những người ái quốc là do phản động bên ngoài xúi giục, vậy Liên sô tan rã, Đông Âu sụp đổ bởi thế lực thù địch nào? Toàn dân cùng kháng chiến chống thực dân Pháp, trong đó có đảng cộng sản Việt Nam và việc đưa quân miền bắc vào nam gây chiến thì ai giựt dây? Đảng đang run sợ trước cao trào dân chủ khắp nơi.

Đảng cộng sản Việt Nam đang đầy đọa dân tộc, trá hình yêu nước để làm tay sai ngoại bang mà toàn dân chứng minh được dã tâm đó, tham nhũng tràn lan, dân oan ngày càng nhiều, đời sống khó khăn hơn, đất biển mất dần, kẻ thù tràn ngập một cách hợp pháp. Lịch sử nhân loại đã chứng minh, chưa có một chủ nghĩa, một chế độ độc tài tàn bạo hoặc cá nhân gian ác nào được tồn tại lâu dài, cuối đời gánh chịu những thê thảm hoặc phải lưu sú vạn niên, đảng cộng sản Việt Nam đã sản sinh quá nhiều những Lê Chiêu Thống.

Kính thưa đồng bào,

Chúng ta hãy xét lại truyền thống đấu tranh của dân tộc Việt Nam nay còn không? Một phần trăm đã là ít, cả nước 90 triệu dân vậy mà ngày hôm nay với 50 ngàn mới có một người dám bước xuống đường biểu tỏ thái độ của mình, số còn lại vẫn nhởn nhơ trên đường phố hoặc thờ ơ đứng nhìn. Đồng bào ơi! Sao không dám đứng lên, yêu nước không có tội, chúng ta hành động vì tự do dân chủ với thái độ ôn hòa chắc chắn thế giới và nhất là Hoa Kỳ sẽ yểm trợ mạnh mẽ, chính nghĩa sẽ tất thắng.

Nhà nước cần phân biệt giữa 2 nhóm khi kết án những người tù chính trị,

1. “Chính trị lợi ích xã hội” là những người yêu nước, mong muốn dân tộc Việt Nam tốt hơn, đáng được tuyên dương không thể ngồi tù, đây mới là một xã hội dân chủ văn minh.

2. “Chính trị tham vọng cá nhân” những người có mộng làm lãnh đạo, muốn lật đổ để nắm chính quyền, thành phần này đảng tùy nghi quyết định số phận của họ nếu xét thấy có tội, tuyệt đối không nghi oan.

Đảng cộng sản Việt Nam đang bị người đàn anh phương bắc ru ngủ, xoa dịu để nuốt trọn. Láng giềng sống thân thiện trong hòa bình là nhà ai nấy ở, không thể nào nhà tôi anh giành, hoặc thương lượng ở chung, không nhượng bộ tôi đánh, dần hồi mất luôn. 

Có thể đảng cộng sản Việt Nam đã thỏa thuận ngầm với giặc, chỉ chống cho có lệ, sau này dể dàng trả lời với nhân dân rằng mất nước là do bị xâm chiếm chứ đảng vẫn từng chống. Thật là sai lầm nếu có quan niệm thà để mất nước chứ không thể mất đảng. Một thể chế dân chủ tự do tất cả mọi đảng phái cùng góp sức; tim óc kiến tạo một Việt Nam hùng cường là công lớn làm gì có đảng nào phải mất, không những thế đảng còn được ghi vào sử sách ở những trang sáng lạng nhất. Nếu một mai đất nước đã bị xâm chiếm thử hỏi đảng cộng sản Việt Nam có còn không? Sinh mạng những lãnh đạo cùng đảng viên ra sao, có an toàn không? Những gì gọi là của Việt Nam sẽ bị kẻ thù tận diệt theo thời gian, khi vỡ lẽ thì đã muộn. 

Tại sao người Việt Nam với nhau không cùng tìm một lối thoát dựa trên căn bản dân tộc, mọi dị biệt bất đồng trong quá khứ coi như phía sau, tương lai trước mặt, Chủ Nghĩa Dân Tộc chắc chắn tốt đẹp và lợi ích hơn Chủ Nghĩa Xã Hội, đảng cần xét lại với một cách nhìn sáng suốt, phải thành thật với nhau và chấp nhận sửa đổi những sai lầm, lãnh đạo nhà nước Việt Nam nên lắng nghe nguyện vọng của nhân dân. Để được trường tồn, Việt Nam cần tạo một tổng lực mạnh bao gồm những người trong và ngoài đảng, thành phần đối kháng, những người khác chính kiến và người Việt sống bên ngoài đất nước cùng hòa giải để đoàn kết dân tộc trong thời gian sớm nhất. Nhà nước Việt Nam cần chính thức lên tiếng trong vấn đề này với thiện ý của mình đồng thời hai bên thành lập những ủy ban liên lạc, công khai tiếp xúc qua những hội nghị hoặc khởi đầu bằng phương tiện truyền thanh; truyền hình, đây là một giải pháp khả thi và tốt nhất cho dân tộc Việt Nam trong bối cảnh hiện nay.

Hỡi những Yeltsin, những Gorbachew Việt Nam của chúng tôi ơi! Quí ngài đang ở đâu? Hãy là cứu tinh của dân tộc được sánh ngang tầm những Trần Bình Trọng, Lý Thường Kiệt, những hai bà Trưng; Triệu. Hùm chết để da, lịch sử Việt Nam ngàn đời sẽ ghi nhớ, quí vị xứng đáng được khắc bia tạc tượng, con cháu hãnh diện vì cha ông của mình. Dân tộc là trên hết, đảng phái hay cá nhân chỉ nhất thời, lịch sử phán xét công tội, ở cuối đời không còn cơ hội để thực hiện, xin lổi hay hối hận không là gì cả, có khi đã muộn. Tổng thống Thein Sein đã là cứu tinh của dân tộc Miến Điện, bà Aung San Suu Kyi một vị anh thư đã góp công lớn cho quốc gia mình, rất mong Việt Nam sẽ có một ngày.

Hai miền Đông Tây nước Đức, một quốc gia thống nhất sau nhiều năm chia cắt, một quốc gia dân chủ tự do đã chỉ biết lấy dân tộc làm nền tảng, một nước Đức hùng cường, mọi phúc lợi ngang bằng cùng hưởng, một điều chắc chắn là những cựu đảng viên cộng sản Đức không cần đến “sổ hưu” và họ đang vươn lên, may mắn sự thống nhất từ phía nước Đức tự do, ngược lại có thể đã máu đổ lệ rơi rồi, nữ thủ tướng bà Angela Merkel từ miền Đông cộng sản đang ở nhiệm kỳ II thật xứng đáng, Việt Nam cần lấy đó làm căn bản cho tương lai.

Thưa quý lãnh đạo, quý công nhân viên chức, quý công an bộ đội và tất cả đảng viên đảng cộng sản Việt Nam. Chắc hẳn quý vị cũng biết và rất rõ tình trạng đất nước Việt Nam và đời sống nhân dân hiện tại ra sao (không xét về cá nhân). Có thể nói thật là bi đát, chủ quyền biển đảo đang mất dần qua mọi hình thức, kinh tế gần như phá sản, xã hội băng hoại với đủ thứ tệ nạn, văn hóa suy đồi trầm trọng, giáo dục không còn hữu hiệu so với khả năng thực tế của từng sinh viên học sinh, đây là những yếu tố căn bản cho một quốc gia hưng thịnh vậy mà Việt Nam không có. Chính quyền độc đảng không ai sửa sai, quốc hội không đại diện nhân dân, không có thực quyền biểu quyết trên nhiều vấn đề của đất nước, hiến pháp thay bằng cương lĩnh chính trị của đảng là vi hiến. Đã bao năm rồi toàn dân trông đợi ở quý vị một sự lãnh đạo chân chính nhưng chưa bao giờ được đáp ứng. Nhân dân có quyền làm chủ đất nước, biết hành xử thế nào để có những người đại diện cho mình thật xứng đáng, người dân đã không còn kiên nhẫn vì nhà nước coi chúng tôi như là đối tượng để trả thù dân tộc, không thể nào. Đã đến lúc đất nước Việt Nam cần có một sự thay đổi toàn diện.

Kính thưa đồng bào

Biết bao cuộc biểu tình bằng mọi hình thức, nhiều thỉnh nguyện, kiến nghị gởi đến lãnh đạo Việt Nam nhưng chúng ta đã vô vọng để thấy được ánh sáng, thời gian không thể chờ đợi, hãy một lần toàn dân biểu tỏ nguyện vọng cùng nhìn về tương lai vì sự tồn vong của dân tộc, phải lấy lại những gì căn bản nhất mà đảng đã tước đoạt của chúng ta, tất cả hãy cùng làm một cuộc cách mạng mới để đất nước được vinh quang. Bài học bó đũa cho chúng ta rút được kinh nghiệm về sự rời rạc hoặc thiếu thống nhất trong hành động. một sáng kiến có thể hữu hiệu hơn được đề nghị như sau:

Toàn quốc thực hiện liên tục nhiều buổi di hành cầu nguyện cho đất nước trên đường phố, dẫn đầu là những vị tu sĩ tất cả tôn giáo như Linh Mục; Mục Sư; Hòa Thượng; Thượng Tọa; Hiền Tài; Lễ Sanh; Sư Cô; Đại Đức; Dì Phước… phát xuất từ tất cả ngôi chùa; nhà thờ; thánh thất; nhà nguyện với áo chùng; cà sa, chuông mõ, thánh kinh, chuỗi tràng hạt cùng tiến về những cơ sở chính quyền từ trung ương đến cấp ủy ban nhân dân tỉnh; quận; huyện; xã, mọi đồng bào phật tử, tín hữu, tín đồ sẳn sàng rời tư gia tháp tùng theo đoàn trong yên lặng, không hoan hô đả đảo, không cờ phướn biểu ngữ, không vũ khí gậy gộc, tuyệt đối không bạo động; phá phách hoặc xâm phạm đến tài sản tư hay công, không đụng đến bất cứ cá nhân hay cơ sở người ngoại quốc, như thế sẽ phản tác dụng, nếu xảy ra phải chận đứng ngay hành động len lỏi phá hoại này, những bài Kinh Hòa Bình; Kinh Sám Hối vang lên trong nhịp nhàng, kêu gọi hàng xóm; thân nhân gia đình của những công an; bộ đội; công nhân viên chức cùng tham gia cầu nguyện cho quốc thái dân an, cho những người lãnh đạo đảng cộng sản Việt Nam biết sám hối quay về với dân tộc, giải thích tường tận cho mọi người biết đây không phải là hành động lật đổ hay có âm mưu đảo chánh, đề nghị họ không đàn áp, nhân cơ hội này rất hy vọng nhiều công an; bộ đội; nhân viên an ninh gia nhập đoàn tuần hành chắc chắn chúng ta sẽ thành công.

Để chuẩn bị, những vị lãnh đạo tôn giáo; trí thức; các khối tranh đấu; cá nhân… cần liên hệ chặt chẽ thảo sẳn những mẫu thỉnh nguyện; kiến nghị như quí vị đã từng thực hiện, điển hình như sửa đổi hiến pháp, thả ngay tất cả tù chính trị, những chức sắc tôn giáo; dân oan, trả lại quyền tự do căn bản cho người dân, tổ chức bầu cử chấp nhận đa đảng…tiến hành việc hòa giải; đoàn kết dân tộc. 

Đại diện đoàn yêu cầu được tiếp xúc giới chức có thẩm quyền trao thĩnh nguyện đồng thời trình bày ý nguyện của nhân dân đối với hiện tình đất nước. Mong rằng lãnh đạo nhà nước nhanh chóng chấp thuận những nguyện vọng chính đáng, không nên chần chừ hay kéo dài, những gì có thể được nên giải quyết ngay; tuyên hứa một cách thành thật. 

Thái độ bất chấp của chính quyền có thể khiến chúng ta phải liên tục nhiều buổi mới mong đạt được kết quả như ý. Đây chỉ là tiếp nối tinh thần những cuộc cách mạng truyền thống của dân tộc Việt Nam, không gì phải sợ. 

Cho dù nhà nước biết rõ ngày giờ chúng ta khởi hành cũng không thể chận đứng hay bắt bớ nổi vì trong một ngày mà trên khắp mọi miền đất nước đều có những đoàn người thi hành quyền công dân yêu nước của mình, không đủ lực lượng để trấn áp, nhà tù không thể chứa cả dân tộc Việt Nam được nếu triệu triệu con dân nước Việt cùng một lòng. 

Lệnh giới nghiêm toàn quốc sẽ không được ban ra vì như thế là nội bất xuất ngoại bất nhập là ngăn sông cấm chợ, xã hội sẽ bị tê liệt, chế độ có thể bị sụp đổ nếu nhà nước không có được một quyết định sáng suốt cấp thời. 

Thực hiện kế hoạch thuận lợi nhất vào những dịp lễ thu hút nhiều đồng bào tham gia hoặc đang lúc các vị nguyên thủ, lãnh đạo cao cấp những quốc gia yêu chuộng tự do sang thăm viếng Việt Nam, có thể hạn chế được sự đàn áp. 

Biến cố lịch sử sẽ xảy ra vào một ngày đẹp trời không xa, chúng ta hãy chuẩn bị tinh thần, phải can đảm lên một lần thôi. Hãy noi gương tiền nhân, từ hàng nhiều thế kỷ trước và những gương sáng ở thế kỷ XXI này như Đức Giáo Hoàng Phao Lô đệ nhị đã từng tuyên bố nếu đất nước Ba Lan vẫn còn bị đàn áp ngài sẽ từ chức, cởi áo Giáo Hoàng về nước chiến đấu, Đức Đạt Lai Lạt Ma cả đời tranh đấu cho nền độc lập Tây Tạng, hàng trăm vị sư tự thiêu cho đạo pháp quả là can trường đáng khâm phục, còn chúng ta thì sao, không lẽ mãi cúi đầu?

Kính thưa quí cơ quan truyền thông báo chí, quí trang chủ những trang web; blog; facebook; twitter, …vì nhu cầu đóng góp thành quả của cuộc đấu tranh vì tự do dân chủ cho Việt Nam, nếu xét thấy có thể xin quí vị cho phổ biến thường xuyên bức tâm thư này nhằm cho khán; thính; độc giả là những người Việt trên toàn thế giới đặc biệt là đồng bào nơi quốc nội còn nghĩ đến quê hương đất nước đang bị chìm đắm vì họa cộng sản, hãy cứu nguy dân tộc, đồng bào ơi!

Một làn sóng tuần hành cầu nguyện, một Đại Hội Diên Hồng trên đường phố... chắc chắn dân tộc Việt Nam sẽ khá hơn.

Hồ Thanh Phát, một con dân nước Việt

Thứ Sáu, 8 tháng 11, 2013

Bình luận: Việt Nam ký công ước quốc tế về chống tra tấn

Châu Văn Thi (Danlambao) - Ngày 8/11/2013 trên trang TTXVN thông tin về việc ngày 7/11, tại trụ sở chính của LHQ ở thành phố New York (Mỹ), ông Lê Hoài Trung, Đại sứ, Trưởng Phái đoàn đại diện thường trực nước ta tại LHQ, đã thay mặt Chính phủ nước Việt Nam ký “Công ước của Liên hợp quốc về chống tra tấn và trừng phạt hoặc đối xử tàn nhẫn, vô nhân đạo hoặc làm mất phẩm giá khác” (gọi tắt là Công ước chống tra tấn). Như vậy, kể từ khi bắt đầu có hiệu lực, đến nay đã có 154 quốc gia phê chuẩn Công ước chống tra tấn.

Đại sứ Việt Nam Lê Hoài Trung (trái) và Tổng thư ký Liên hợp quốc Ban Ki-Moon (Nguồn: TTXVN)

Phản ứng của dư luận:

Được biết Việt Nam vừa ký kết bản Công ước về chống tra tấn blogger Hành Nhân một nhà hoạt động ở Sài Gòn cho rằng: thay vì ký kết tham gia vào Công ước Chống tra tấn của Liên Hiệp Quốc, Việt Nam chỉ cần đảm bảo việc không có bất kỳ ai vào tự tử trong đồn Công An, quản lý tốt không để cho các tù phạm đánh nhau, hoặc đừng để các nhân viên thi hành công vụ lỡ tay "nựng" dân, "vô tình súng cướp cò", "mời làm việc" bằng cách khiêng như khiêng heo + dùi cui + đấm đá... 

Tôi chưa từng bị tra tấn trong đồn công an, nhưng tôi đã từng bị đánh khi muốn tham dự phiên xử các blogger CLBNBTD. Cái đó là bị đánh bên ngoài đường phố, chủ yếu họ dùng để bắt tôi thôi, trong đồn thì tôi ko thích dùng bạo lực, dù tôi có học võ nhưng ko đánh trả. Tôi cho rằng việc ký kết không quan trọng bằng việc thực thi, giám sát!

Blogger Hoàng Dũng bình luận về sự kiện này:

Ngày 7/11/2013, Việt nam ký kết tham gia Công ước Chống tra tấn. Tuy nhiên, tôi dám chắc rằng có đến gần 90 triệu người không biết đến thông tin mới này. Do vậy, trách nhiệm của số ít ỏi còn lại là làm cho những người xung quanh mình biết điều đó. Tốt nhất là in Công ước Chống tra tấn ra, tặng cho công an, dân phòng và cùng họ tìm hiểu. Làm được điều này, là bạn đã góp phần tích đức cho con cháu của họ rồi đó. Ai sẽ là người đầu tiên của sự kiện tặng Công ước Chống tra tấn cho CAP gần nhất? - Chị Bùi Thị Minh Hằng chăng?

*

Sáng nay 8.11, tức một ngày sau khi ký Công ước chống tra tấn, thông tin khẩn về vụ việc anh Thiên Ân, một cộng tác viên của DCCT-SG bị cảnh sát giao thông giữ không rõ lý do và đưa về đồn công an phường 7 quận 3. Anh Cao Hà Trực lên đồn công an hỏi về việc này thì lập tức bị bắt và đánh đập dã man.

Anh Cao Hà Trực ở đồn công an phường 7 quận 3 sáng 8.11.2013. Nguồn: Cuenot Le

Chị Bùi Thị Minh Hằng còn tải lên một video cho thấy 2 nhà hoạt động: Trương Văn Dũng và Lê Thiện Nhân bị cùm chân khi đến đồn công an Thụy Khê để hỏi về vụ đồng bào dân tộc H'Mong bị đàn áp.


*
Các vụ việc tra tấn, bức cung điển hình:

Đem từ khóa "chết trong đồn công an" lên công cụ tìm kiếm google thì cho ra 13,600,000 kết quả trong đó có những vụ nổi bật :

1.Nạn nhân được người nhà cho biết là ông Hoàng Văn Ngài, sinh năm 1974, cư ngụ tại xã Quảng Thành, thị xã Gia Nghĩa tỉnh Dak Nong. Ông này qua đời ngay tại trụ sở công an thị xã Gia Nghĩa.

Ông Hoàng Văn Tá nói về điều đó vào tối ngày 22 tháng 3:

“Đây là vấn đề bức xúc vì anh Ngài chết tại phòng Công an. Đề nghị các cấp xem xét, xem lại việc anh Ngài bị chết tại cơ quan công an để lấy công bằng cho công dân Việt Nam chúng tôi, thì chúng tôi mới tin tưởng vào sự lãnh đạo của đảng, chính quyền địa phương. Gia đình đang đòi hỏi sự công bằng, hợp lý của Nhà nước Việt Nam. Đòi hỏi nguyên nhân làm sao anh Ngài chết; mà anh Ngài là một người khỏe mạnh khi công an đến chở anh Ngài từ lán đi. Trước đây anh Ngài không hề có bệnh tật mà sao lại chết tại cơ quan công an?”
Anh Hoàng Văn Ngài qua đời ngay tại trụ sở công an thị xã Gia Nghĩa, tỉnh Dak Nông. Hình do thính giả gửi cho RFA


Tử thi anh Huỳnh Công Nhựt
2. Chị Nguyễn Thị Thanh Tuyền gửi đơn khiếu nại đến hàng loạt cơ quan chức năng đề nghị làm sáng tỏ cái chết nhiều khuất tất của chồng chị.

Ngày 25-4, anh Nguyễn Công Nhựt được phát hiện chết trong tư thế treo cổ ở trụ sở Công an huyện Bến Cát. Gần thi thể anh có một lá thư tuyệt mệnh thể hiện anh chết vì quẫn trí.

Tuy nhiên, chị Tuyền cho rằng nét chữ trong thư không giống chữ của chồng. Chị khẳng định chồng chị không tự tử.

Anh Nhựt là thủ kho của Công ty sản xuất lốp xe Kumho (KCN Mỹ Phước). Anh bị câu lưu tại trụ sở Công an huyện Bến Cát nhằm phục vụ điều tra, làm sáng tỏ vụ mất trộm hàng ngàn lốp xe ô tô xảy ra tại công ty này.

Chị Tuyền ôm di ảnh chồng


3. Sau ba giờ đồng hồ được “mời” lên trụ sở công an xã Kim Nỗ (Đông Anh, Hà Nội) lấy lời khai, ông Nguyễn Mậu Thuận (SN 1958) bất tỉnh và chết ngay sau đó.

Vết thương bầm tím trên tay và chân của nạn nhân. Ảnh do gia đình cung cấp..
Vết thương bầm tím trên tay và chân của nạn nhân. Ảnh do gia đình cung cấp..

Cơ hội nào cho Việt Nam?

Sự kiện Việt Nam ký Công ước quốc tế về chống tra tấn được đánh giá là hình thức khi Việt Nam thực sự chưa có cơ chế giám sát và thực thi công ước này. Vả lại Việt Nam không có một cơ chế tam quyền phân lập. Do không có tam quyền phân lập, xã hội nước ta đang thành một mớ hỗn độn, không ai sợ ai, đồn công an trở thành nơi "tự tử" trong khá nhiều trường hợp, côn an thẳng tay với các nhà hoạt động dân chủ, nhân quyền... Không có tam quyền phân lập thì những vụ án oan như ông Nguyễn Thanh Chấn sẽ còn tiếp diễn mà không có điểm dừng. 

Xin mượn lời của đại biểu quốc hội Trương Trọng Nghĩa để kết thúc câu chuyện này:

"Điều quan trọng nhất trong câu chuyện này là phải bảo đảm quyền của bị can, bị cáo. Người bị tạm giam, tạm giữ được có luật sư ngay từ giai đoạn đầu và được đối xử theo nguyên tắc suy đoán vô tội một cách triệt để, tạo điều kiện để giám sát, loại trừ hành vi bức cung và dùng nhục hình dưới mọi hình thức khác nhau. Cho nên, nếu bảo đảm quyền có luật sư, có người bào chữa cho bị can, bị cáo, người bị tạm giam, tạm giữ, bảo đảm chế độ giam giữ theo đúng nguyên tắc suy đoán vô tội, bảo đảm quyền của họ được tư vấn pháp luật sẽ hạn chế cao nhất những án oan sai như vậy.

Hiện nay, nguyên tắc suy đoán vô tội là cơ bản của pháp luật hình sự quốc tế của đa số các quốc gia dân chủ và văn minh, nguyên tắc đó đã được quy định trong Hiến pháp và bộ luật Tố tụng hình sự của Việt Nam. Vấn đề là lâu nay không được thực hiện đầy đủ và nghiêm chỉnh. Pháp luật Việt Nam đã quy định người bị tạm giữ có quyền có luật sư trong 24 giờ. Tạm giam trong vòng ba ngày phải có luật sư nhưng nhiều trường hợp không được bảo đảm, chưa kể có định kiến, thành kiến đối với bị can bị cáo, không theo tư duy suy đoán vô tội. Chính vì vậy, dễ ép cung, bức cung dẫn đến sai lầm. Chúng ta làm đúng luật pháp hiện nay, đối xử với người bị tạm giam, tạm giữ như người chưa có tội, phải coi là người không có tội đến khi có bản án có hiệu lực của toà án, nếu làm vậy thì hạn chế, khắc phục được nhiều oan sai như vụ ông Chấn.

Khi người ta bị bức cung, ép cung thì dễ dẫn đến nhận tội để qua được giai đoạn thẩm vấn, điều tra. Chừng nào còn bức cung, ép cung, chừng nào nguyên tắc suy đoán vô tội không được áp dụng triệt để, chừng nào quyền có luật sư, quyền bào chữa của người bị tạm giam không được bảo đảm như luật định, chừng ấy vẫn còn những trường hợp như ông Chấn."

Thứ Tư, 6 tháng 11, 2013

Những sự thật không thể chối bỏ (phần 5) - Nỗi đau Cải Cách

Đặng Chí Hùng (Danlambao) - Tôi xin được trình bày ở bài viết này sự thật về cái gọi là “Cải cách ruộng đất” man rợ ở Miền Bắc. Nó không mới lạ với đa số bạn đọc. Nhưng lâu nay, người cộng sản hoặc bênh vực cho cộng sản đổ tội cho ông Trường Chinh, Lê Văn Lương... Điều này không sai nhưng chưa đủ. Vai trò và trách nhiệm của ông Hồ Chí Minh trong chiến dịch dẫn đến cái chết của gần 200,000 người dân vô tội cần được vạch rõ.

A. Cải cách ruộng đất (CCRĐ) hay trò chơi với xác người? 

1. Bối cảnh lịch sử và vấn đề cải cách nông nghiệp tại miền Bắc: 

Đảng cộng sản dưới sự chỉ đạo của ông Hồ Chí Minh đã thực hiện CCRĐ trong tính toán của minh và theo tinh thần của “đàn anh” Trung cộng làm trong “Cải cách văn hóa”. Đây cũng là một trong những điều chứng tỏ ông Hồ và đảng cộng sản luôn luôn đưa mình vào vị thế làm chư hầu cho Trung cộng (đã trình bày ở phần 4).

Điều này cũng không có gì quá ngạc nhiên vì trong các chế độ Cộng sản, bản chất của Cải cách Ruộng đất là đảo lộn toàn bộ tổ chức xã hội bằng cách phế bỏ quyền tư hữu đối với tất cả ruộng, đất, vườn, ao, hoa màu, trâu bò và dụng cụ sản xuất như cày, bừa, cuốc, xẻng v.v... …

Thực chất vấn đề là nó biến cuộc nổi dậy theo cách gọi của Việt Minh thành một cuộc trả thù đẫm máu. Nó không khác gì một cuộc diệt chủng áp dụng lên chính đồng bào của mình.

Chiến dịch CCRĐ xảy ra vào giai đoạn mà đảng Cộng sản Việt Nam đã củng cố được địa vị lãnh đạo và quyền lực. Sau khi cướp được chính quyền vào năm 1945, đảng cộng sản đã tiêu diệt các lực lượng và đảng phái quốc gia cũng như dân tộc khác từ năm 1946. Trong giai đoạn từ 1946 đến 1950, đảng cộng sản Việt Nam bị tách biệt với phong trào cộng sản Quốc tế, không thể nhận sự giúp đỡ của Liên Xô và Trung Quốc và vì còn yếu nên còn cần sự hợp tác của các thành phần không Cộng sản trong hàng ngũ Việt Minh. Khi đảng cộng sản Trung Quốc chiếm được chính quyền tại Trung Quốc tháng 10-1949, biên giới Việt Nam–Trung Hoa thông thương được. Cộng sản Việt Nam được Trung cộng viện trợ vũ khí, cán bộ huấn luyện. Lúc đó đảng cộng sản cũng đã nắm vững tình hình trong nước nên có thể thi hành biện pháp có tính cách Cộng sản mà trước đây đảng cộng sản chưa thể làm vì chưa đủ sức chống đỡ với sự phản đối của quần chúng và các tổ chức không theo cộng sản.

Chiến dịch Cải cách Ruộng đất và một số các chiến dịch thuộc vào giai đoạn hai trong sách lược cách mạng vô sản của đảng Cộng sản: giai đoạn đầu là Cách mạng Dân tộc Dân chủ Nhân dân, giai đoạn hai là giai đoạn Cách mạng Xã hội Chủ nghĩa. Chỉ từ giai đoạn hai trở đi thì các đặc tính của cộng sản mới lộ ra. Đây là chiêu lừa đảo rất tinh vi của cộng sản. Họ lợi dụng cách mạng dân tộc để lừa bịp nhân dân chiến đấu, đóng góp cho chế độ độc tài kéo dài đến ngày hôm nay.

Tại văn kiện đại hội đảng để thực hiện việc cải cách ruộng đất (Nhà xuất bản chính trị đảng cộng sản việt nam- trang 5) có đánh giá: “…Việc đấu tranh giai cấp giữa địa chủ và nông dân đã được đặt ra ngay từ khi thành lập Đảng. Đây là vấn đề bức thiết cần phải thực hiện trong thời gian tới đây. Chúng ta nhận thấy rằng từ có từ 90% đến 95% dân chúng Việt Nam là nông dân, và trong số này thì chỉ có khoảng 5% là địa chủ phú nông, còn đa số đều là người làm thuê, làm mướn, tá canh, tá điền. Do đó, chúng ta muốn làm cách mạng xã hội phải lôi cuốn được khối đa số đó, phải thỏa mãn khối đa số đó bằng quyền lợi để tiến hành cách mạng dân tộc, tiến lên chủ nghĩa xã hội...".

Như vậy, qua đây có thể thấy đảng cộng sản chỉ muốn lợi dụng số đông nông dân có dân trí kém để thúc đẩy một cuộc cướp bóc, trả thù đẫm máu với giai cấp trí thức hơn. Họ nhằm hai mục tiêu: (1) Đạt được ý nguyện cướp bóc, trả thù và (2) lợi dụng đó làm bàn đạp cho chế độ đảng trị khi trói buộc lợi ích của nông dân vào thòng lọng giăng sẵn. 

2. Các bước thực hiện cải cách ruộng đất: 

Giai đoạn khởi động: Vào giữa năm 1949, khi sửa soạn chuyển qua giai đoạn phản công quân sự, Việt Minh đã vững mạnh ở vùng nông thôn và nhất là rừng núi Việt Bắc. Lúc đầu, Việt Minh thực hiện cuộc CCRĐ thử nghiệm, chỉ kiếm cách tăng gia sản lượng nông nghiệp nhắm cung ứng nhu cầu đội quân càng ngày càng gia tăng. Để khuyến khích nông dân ra sức cày bừa, chính phủ Việt Minh đã ra sắc lệnh số 78/SL ngày 14-7-1949 thành lập "Hội đồng giảm tô", ấn định các chủ đất (Việt Minh gọi là địa chủ) phải giảm thiểu đồng bộ tiền thuê đất (địa tô) cho tá điền là 25%, có nơi có thể giảm tối đa 35% trong trường hợp tá điền quá nghèo khổ. Sau đó, thông tư liên bộ số 33/NVI ngày 21-8-1949 đưa ra những nguyên tắc chủ yếu về việc phân chia tạm thời cho nông dân ruộng đất tịch thu của các điền chủ người Pháp và những điền chủ "Việt gian", tức là những người bị Việt Minh kết tội thân Pháp, hoặc không cộng tác với Việt Minh. 

Giai đoạn hai: Trong năm 1950, một loạt sắc lệnh nông nghiệp ra đời có tính cách mỵ dân, nhắm đẩy mạnh sản xuất, phục vụ công cuộc kháng chiến của Việt Minh, bắt đầu bằng sắc lệnh số 20/SL ngày 12-2-1950 ra lệnh tổng động viên toàn bộ "nguồn nhân lực, vật lực (gia súc, công cụ) và tài lực (tiền bạc) cho tổ quốc". 

Sau đó, ngày 22-5-1950, xuất hiện cùng một lúc hai sắc lệnh. Sắc lệnh số 89/SL quyết định xóa bỏ tất cả những hợp đồng vay nợ giữa tá điền với điền chủ ký kết trước năm 1945, và xóa bỏ cả những hợp đồng ký kết sau năm 1945 nếu con nợ đã trả đủ 100% số tiền đã vay, hoặc con nợ đã từ trần vì sự nghiệp của Việt Minh thì gia đình khỏi trả nợ. 

Sắc lệnh thứ hai do chính phủ VM ban hành cùng ngày 22-5-1950 mang số 90/SL, quốc hữu hóa tất cả những đất đai đã bỏ hoang trong 5 năm liên tục kể từ ngày ra sắc lệnh.

Giai đoạn ba: Giai đoạn thứ ba bắt đầu bằng sắc lệnh ngày 20-4-1953, đăng trên Công báo Việt Minh ngày 20-5-1953. Sắc lệnh nầy không có gì mới lạ, chỉ củng cố những "thành quả" của cuộc Cải cách trước. Lần nầy, giá thuê đất được hạ thêm 25% để "làm thế nào cho tiền thuê đất không thể vượt quá 1/3 lợi tức mùa gặt." Luật mới quy định các chủ đất không được buộc tá điền phải đóng thêm tiền cho các phí tổn khác, như tiền thuê dụng cụ hay trâu bò cày bừa (điều 6), cũng như cấm các chủ đất hủy bỏ những hợp đồng cũ để ký kết những hợp đồng tương tự khác (điều 14, 16). Sắc luật nầy nhắc lại việc hủy bỏ hoàn toàn tiền nông dân vay nợ trước tháng 8-1945 (điều 17), và hoãn lại những món nợ của các thành phần ưu đãi của Việt Minh (binh sĩ Việt Minh, người nghèo...) trong trường hợp những chủ nợ đang sống trong vùng do chính quyền Quốc gia kiểm soát (điều 18). Đối với những chủ nợ sống tại vùng Việt Minh, các con nợ vay sau 1945 cũng được giảm từ 18 đến 20% (điều 21). Sắc lệnh nầy quyết định tịch thu tất cả những tài sản của "đế quốc" Pháp, "Việt gian" và "địa chủ ác ôn" để phân phối lại cho những người không có đất đai nhà cửa, và ưu tiên cho những thành phần nòng cốt của Việt Minh (điều 25 đến 30). Cuối cùng, sắc luật nầy thành lập "Ủy ban nông nghiệp" các cấp. Ở trung ương, Ủy ban nông nghiệp do thủ tướng đứng đầu, gồm bộ trưởng Canh nông, bộ trưởng Nội vụ, đại diện Mặt trận Liên Việt, và hai đại diện của Ủy ban Liên lạc Nông dân. Ở mỗi cấp hành chính, cho đến cấp xã đều có những "Ủy ban nông nghiệp" gồm những nhân vật tương tự ở mỗi cấp (điều 35, 36). 

Giai đoạn thứ tư: Vào cuối tháng 11 đầu tháng 12-1953, Việt Minh triệu tập Đại hội Đại biểu đảng Lao động, và Đại hội Trung ương đảng tại vùng chiến khu Việt Bắc. Đề tài thảo luận chính của khóa họp đảng Lao động lần này là câu khẩu hiệu "Ruộng đất cho người cày". Sau gần một tháng hội họp, kết quả thảo luận của Trung ương đảng được đưa cho quốc hội Việt Minh thông qua để có hình thức dân chủ, trong kỳ họp ngay sau đó. Quốc hội nầy thành lập từ năm 1946 gồm 444 người, nay chỉ có 171 đại biểu dự họp. Đảng Lao động quyết định thực hiện dần dần cuộc CCRĐ theo một kế hoạch được soạn thảo kỹ lưỡng. 

Sắc lệnh CCRĐ lần này hơi khác với đường lối cải cách của Liên Xô. Tại Liên Xô, đảng Cộng sản Liên Xô xóa bỏ hẳn sự tư hữu đất đai, và nông dân chỉ có "quyền lao động". Việt Minh theo đường lối cải cách của Trung Cộng và Bắc Triều Tiên, trên lý thuyết không xóa bỏ hẳn quyền sở hữu đất đai của nông dân mà cho phép dân cày có quyền có đất. Việc này thực sự chỉ có trên lý thuyết, chứ trong thực tế, nhà nước Cộng sản quản lý toàn bộ đất đai. 

Mở đầu, Sắc lệnh ngày 4-12-1953 nêu lên ý nghĩa và mục đích của cuộc CCRĐ lần nầy là "bãi bỏ toàn diện quyền sở hữu đất đai của "Thực dân Pháp" và của tất cả những "đế quốc" khác, đồng thời thiết lập quy chế sở hữu đất đai của nông dân" (điều 1). Toàn bộ đất đai của "Thực dân Pháp", "Việt gian", "địa chủ phản động", và những "phú hộ ác ôn" đều bị tịch thu (điều 1). Đất đai của những thành phần dân chủ tiến bộ, kháng chiến và hợp tác với Việt Minh sẽ được trưng dụng. Nhà nước sẽ bồi thường hằng năm khoảng 1,5% tài sản (điều 4). Đối với những điền chủ lẩn tránh chính sách bằng cách sang, bán, chuyển nhượng đất đai sau cuộc CCRĐ lần thứ ba (20-4-1953), nhà nước xem đó là những hành động bất chính, sẽ trưng dụng đất đai và bồi thường bằng tín phiếu ngân hàng (điều 5). Cuối cùng, sắc lệnh nầy cấm đoán mọi sự phản kháng cuộc CCRĐ (điều 35), và quy định việc thiết lập tòa án nhân dân đặc biệt để xét xử những thành phần chống lại cuộc CCRĐ của Việt Minh (điều 36). 

Giai đoạn thứ năm: Vào giữa năm 1954, nước Việt Nam bị chia hai bằng Hiệp định Genève ký kết ngày 20-7-1954, theo đó Việt Nam Dân chủ Cộng hòa tức Việt Minh Cộng sản cai trị ở phía bắc vĩ tuyến 17, Quốc gia Việt Nam ở phía Nam. Nói cách khác, Cộng sản không còn ở rải rác trong các chiến khu khắp Bắc, Trung và Nam Việt Nam, mà tập trung tại vùng phía bắc vĩ tuyến 17 đến biên giới Trung cộng. Hồ Chí Minh và đảng Lao động muốn áp đặt một chính quyền độc tài theo chủ thuyết Mác-Lê trên lãnh thổ miền Bắc. Muốn thế, họ nhắm ngay đến thành phần rộng rãi chiếm đại đa số xã hội Việt Nam, đó là nông dân ở thôn quê. Nắm được nông thôn, kho lương thực của dân chúng, thì Cộng sản sẽ nắm được thành thị không mấy khó khăn. 

Tình hình ruộng đất ở Bắc Việt thay đổi lớn lao sau hiệp định Genève, vì khoảng 1,000,000 người bỏ đất Bắc di cư vào Nam, để lại toàn bộ điền sản tại quê nhà. Sau khi tái tổ chức chính quyền, tạm ổn định tình hình, Hồ Chí Minh ký sắc luật về CCRĐ ngày 14-6-1955. Sắc luật nầy dựa căn bản trên hai sắc lệnh tháng 4 và tháng 12 năm 1953, theo đó nhà nước tịch thu toàn bộ tài sản (đất đai, nhà cửa, gia súc, nông cụ…) của những người "Thực dân", địa chủ gian ác, cường hào ác bá, "Việt gian" phản động; trưng thu không bồi thường và thu mua đất đai, nông cụ, gia súc thuộc các nhân vật "tiến bộ", các địa chủ đã tham gia kháng chiến, các địa chủ thuộc thành phần thương gia hay kỹ nghệ gia; truất hữu đất đai của các tổ chức tôn giáo như Công giáo, Phật giáo (chương 2). 

Chú ý: Tất cả các văn bản, công văn có số ở phần trên có trong cuốn: Tập hợp văn kiện văn bản của đảng trước 1975 (Nhà xuất bản văn hóa- của đảng cộng sản) và một số lưu tại thư viện quốc gia Việt Nam. Đây là các tài liệu củ đảng cộng sản, được đảng cộng sản công khai. Bạn đọc có thể kiểm chứng. Hoặc có thể truy cập vào:
sẽ có đầy đủ các văn bản tại phần trên (Website này là thư viện pháp luật của bộ tư pháp Việt Nam). 

3. Tiến hành: 

Từ 1949 đến 1956, Việt Minh Cộng sản mở năm đợt Cải cách Ruộng đất (CCRĐ). Sau mỗi đợt, Việt Minh tổ chức hội nghị rút ưu khuyết điểm, để rồi tiến hành tiếp đợt khác. Trong hai đợt đầu (1949 và 1950), Việt Minh thực hiện cải CCRĐ nhẹ nhàng để phục vụ nhu cầu lương thực, nuôi quân trong hoàn cảnh chiến tranh.

Năm 1949, Mao Trạch Đông và đảng Cộng sản chiếm được lục địa Trung Hoa, thành lập nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa. Trung cộng thừa nhận chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa của Hồ Chí Minh ngày 18-1-1950. Tiếp theo, Liên Xô thừa nhận ngày 30-1-1950. Tháng 2-1950, Hồ Chí Minh qua Bắc Kinh và Moscow xin viện trợ. Khi gặp Hồ Chí Minh, Stalin ra lệnh cho Hồ Chí Minh phải thực hiện ngay hai việc: thứ nhất tái công khai đảng Cộng sản và thứ hai đẩy mạnh CCRĐ theo đường lối Cộng sản. Stalin chỉ đạo cho Hồ Chí Minh phải cử người sang Trung cộng học tập phương pháp CCRĐ triệt để, vì lúc đó mối liên lạc Xô-Trung còn bình thường và vì Việt Nam nằm sát biên giới Trung cộng. (Links :http://tennguoidepnhat.net/2012/04/06/về-chuyến-tham-bi-mật-lien-xo-va-trung-quốc-nam-1950/). Đây là trang web của ban tuyên giáo Trung ương đảng cộng sản Việt Nam.

Sau khi về nước, Hồ Chí Minh liền triệu tập Đại hội lần 2 đảng Cộng sản Đông Dương tại chiến khu rừng núi Tuyên Quang, tái công khai đảng Cộng sản dưới danh xưng mới là đảng Lao động ngày 19-2-1951, do Hồ Chí Minh làm chủ tịch, Trường Chinh làm tổng bí thư. Trong Đại hội nầy, Hồ Chí Minh đã phát biểu: “Về lý luận, đảng Lao động Việt Nam theo chủ nghĩa Mác-Lênin… lấy tư tưởng Mao Trạch Đông làm kim chỉ nam… Tôi không có tư tưởng ngoài chủ nghĩa Mác-Lênin”. (Trích Hồ Chí Minh toàn tập-Sách của đảng cộng sản Việt Nam). Chẳng những thế, cũng trong Đại hội này, Hồ Chí Minh còn nhiều lần tuyên bố:“Ai có thể sai, chứ đồng chí Stalin và đồng chí Mao Trạch Đông thì không thể sai được”.(Nguyễn Minh Cần, Đảng Cộng sản Việt Nam qua những biến động trong phong trào Cộng sản quốc tế, 2001, tr. 63.) 

Để tiến hành CCRĐ, sau Đại hội 2, Việt Minh cử người sang Trung cộng tham dự khóa học tập về chủ nghĩa Mác-Lênin tổ chức tại Bắc Kinh cho các đảng Cộng sản các nước Á Châu như Indonesia, Mã Lai, Thái Lan, Pakistan, Philipin, Nhật Bản, chính là để học phương thức CCRĐ theo đường lối Trung cộng. Phái đoàn nầy trở về liền được đảng LĐ gởi tổ chức thí điểm CCRĐ, bắt đầu phát động "giảm tô, giảm tức" ở vài tỉnh Việt Bắc và ở Thanh Hóa.

Các thành phần theo quy định của Việt Minh cộng sản Đối với các thành phần nông nghiệp, VM ra sắc lệnh vào tháng 3-1953 ấn định các thành phần xã hội ở nông thôn như sau (Bernard Fall, sđd. tr. 283): 

Địa chủ: là những người có nhiều ruộng đất mà không trực tiếp canh tác. Địa chủ được chia thành ba hạng: địa chủ thường (có khoảng dưới 5 mẫu ta, đủ ăn, không phạm tội ác ôn dưới thời Pháp thuộc), địa chủ cường hào ác bá (những người hiếp đáp, ngược đãi bần nông và bần cố nông), địa chủ phản động (quan lại phong kiến, Việt Quốc, Đại Việt, hay thân Pháp). 

Phú nông: có khoảng 3 mẫu ta đất, có một con trâu, tự đứng ra canh tác và thuê nông dân trong việc canh tác. 

Trung nông: có dưới 3 mẫu ta, trực canh, đủ sống. Trung nông chia thành 2 loại: trung nông cấp cao (có dưới 3 mẫu ta, có một con trâu hay bò), và trung nông cấp thấp (có dưới 1 mẫu ta ruộng). 

Bần nông: có ít sào đất, không đủ sống, phải đi làm thuê cho địa chủ hay thuê đất của địa chủ rồi trả địa tô. 

Bần cố nông: hoàn toàn không có đất, không có gia súc, không có nông cụ, làm thuê đủ thứ nghề để sống. (Lâm Thanh Liêm, bđd. sđd. tt. 187-188). 

Đường lối đấu tranh CCRĐ là: dựa vào bần cố nông, lôi kéo (tranh thủ) trung nông, cô lập phú nông, và tập trung mũi nhọn vào địa chủ. (Trích trong hồ sơ của hội đồng CCRĐ- thư viện pháp luật Việt Nam).

Khích động khát máu - "Thà chết mười người oan còn hơn để sót một địch": Để khích động nông dân hưởng ứng cuộc CCRĐ, ban cải cách phải theo đúng ba giai đoạn đề ra do sắc lệnh ngày 12-4-1953 như sau: 

Thứ nhất: kích động tâm lý quần chúng chống lại các địa chủ bằng cách đưa cán bộ về thực hiện "tam cùng" hay "tam đồng" với bần nông, để "thăm nghèo hỏi khổ" và sau đó "bắt rễ, xâu chuỗi". 

Thứ hai: Sau khi len lỏi "bắt rễ xâu chuỗi", và nhờ thông tin của rễ chuỗi nầy, nắm vững tình hình các gia đình trong địa bàn hoạt động, cán bộ bắt đầu đánh giá và xác định lại các thành phần xã hội đã được Ủy ban hành chánh địa phương sắp xếp theo Sắc lệnh tháng 3-1953 nêu trên. Từ đó, đội công tác mới quyết định các đối tượng sẽ bị đấu tố. Đây là cơ hội giải quyết những ân oán đã có từ trước ở trong làng, ví dụ rút địa chủ xuống hàng phú nông cho nhẹ tội, hay ngược lại đưa phú nông lên hàng địa chủ cho nặng tội. 

Thứ ba: Thiết lập tòa án nhân dân để xét xử những kẻ có tội với nhân dân. Để việc xét xử đạt kết quả đúng yêu cầu của đảng LĐ, các bần nông được tổ chức chặt chẽ và sửa soạn kỹ càng để họ chủ động đấu tố. 

Trong năm 1953, mọi việc đã chuẩn bị đầy đủ để tiến hành CCRĐ, nhưng vào đầu năm 1954, chiến tranh đến hồi khốc liệt và sắp kết thúc, chính phủ VM bận giải quyết chiến trường, vận động ngoại giao, rồi ký kết Hiệp định Genève nên cuộc CCRĐ tạm đình hoãn vì sợ tiếng vang lan truyền khắp nơi, khiến dân chúng lo sợ bỏ di cư vào Nam. Việt Minh chỉ đình hoãn chứ không bãi bỏ. 

Sau Hiệp định Genève ngày 20-7-1954, đảng Lao Động cai trị phía bắc vĩ tuyến 17 (bắc sông Bến Hải, Quảng Trị). Ổn định xong tình hình, đảng Lao động mở lại cuộc CCRĐ giai đoạn 5. Lần này việc tổ chức có quy củ rõ ràng, do Ủy ban CCRĐ đứng đầu. 

Ủy ban cải cách: gồm hai cấp trung ương và địa phương. 

Cấp trung ương: do tổng bí thư đảng Lao động là Trường Chinh - Đặng Xuân Khu làm chủ tịch, có ba người phụ tá là Hoàng Quốc ViệtLê Văn Lương (đều là ủy viên Bộ chính trị) vàHồ Viết Thắng (ủy viên Trung ương đảng). Hồ Viết Thắng giữ chức giám đốc, trực tiếp điều hành cuộc Cải cách theo mệnh lệnh của Trường Chinh. Hồ Viết Thắng đã từng đi học ở Trung cộng, được Trường Chinh giao nhiệm vụ mở "Trung tâm đào tạo cán bộ Cải cách Ruộng đất" tại chiến khu Cao Bắc Lạng. 

Cấp tỉnh: Hồ Viết Thắng bổ nhiệm những người đã được đào tạo về các tỉnh tổ chức các đoàn CCRĐ. Trung bình mỗi tỉnh có 10 đoàn, mỗi đoàn có khoảng 100 cán bộ do một đoàn trưởng đứng đầu, quyền hạn tương đương với một bí thư đảng cấp tỉnh, nhận lệnh trực tiếp từ Ban cải cách trung ương, không qua trung gian hệ thống đảng hay chính quyền địa phương. Mỗi đoàn gồm nhiều đội, mỗi đội có khoảng 6 hay 7 cán bộ. Đội trưởng được chọn trong số bần nông hay bần cố nông, nhất là những người đã từng có kinh nghiệm tham gia các CCRĐ trước đây. Các đội có quyền hạn tuyệt đối, nhận lệnh thẳng từ Ủy ban CCRĐ, đúng như câu tục ngữ lúc đó "nhất đội nhì trời", được quân đội bảo vệ để thi hành công tác, và được nhà cầm quyền địa phương cung cấp đầy đủ tài liệu theo chính sách của đảng và nhà nước. (Lâm Thanh Liêm, sđd., bđd. tt. 184-185). 

Nguyên tắc hành động căn bản của các Ủy ban CCRĐ là câu khẩu hiệu: "Thà chết mười người oan còn hơn để sót một địch" (Trích trong hồ sơ của hội đồng CCRĐ- thư viện pháp luật Việt Nam). Chính câu khẩu hiệu nầy đã đưa đến việc giết hại tràn lan biết bao nhiêu lương dân vô tội. 

Câu khẩu hiệu này xuất hiện trong bài diễn văn của luật sư Nguyễn Mạnh Tường. Theo bài diễn văn luật sư Nguyễn Mạnh Tường đọc tại cuộc họp Mặt trận Tổ quốc ở Hà Nội ngày 30 tháng Mười 1956, cuộc cải cách ruộng đất được thực hiện với phương châm "thà chết 10 người oan còn hơn để sót một địch". Phương châm này đi ngược lại với quy tắc cơ bản của pháp luật, trong trường hợp này là "thà 10 địch sót còn hơn một người bị kết án oan". Cụ thể các quy tắc pháp lý đã bị xâm phạm là:

Không xử phạt các tội đã phạm quá lâu đến hiện tại mới điều tra ra. Trách nhiệm của phạm nhân thì chỉ một mình phạm nhân chịu, không quy kết cho vợ con, gia đình. Muốn kết án một người phải có bằng chứng xác đáng. Thủ tục điều tra, xét xử phải bảo đảm quyền lợi của bị can. Bị can có quyền nhờ luật sư bào chữa. Phải tôn trọng bị can trong quá trình truy tố và xét xử; khi bị can ra trước tòa không được xiềng xích và không được dùng nhục hình.

Đoàn và đội công tác phóng tay phát động quần chúng đấu tranh CCRĐ hoạt động theo kiểu khủng bố: Bí mật đến một địa phương nào đó, bí mật hành động... và gieo rắc tai ương khủng khiếp cho địa phương. Không những chỉ địa chủ, phú nông sợ hãi mà toàn thể dân chúng và cả các cấp chính quyền cũng như quân đội địa phương đều sợ hãi, vì bất cứ ai cũng có thể bị dính tên vào sổ đấu tố mà không ai có thể đoán lường trước hậu quả. 

Tòa án nhân dân: Sắc lệnh năm 1953 cũng như Sắc lệnh năm 1955 đều thiết lập tòa án nhân dân để xét xử những tội phạm trong CCRĐ. Tòa án nầy được tổ chức ở những vùng có cải cách, chánh án là một đội viên trong đội cải cách, biện lý (công tố) là một nông dân hay bần nông đã từng làm việc (gia nhân, tá điền…) trong nhà của bị cáo, biết rõ lý lịch khổ chủ. Các quan tòa nầy chỉ là những kẻ dốt nát, lâu nay thấp kém, bỗng chốc được cất nhắc lên địa vị quan trọng, nên hạch sách trả thù, moi ra hay bịa đặt mọi thứ gọi là thói hư tật xấu của khổ chủ, đặc biệt là tội dâm ô, để đấu tố. Đặc biệt trong tòa án nhân dân không có người đóng vai trò luật sư biện hộ, và cũng chẳng ai dám biện hộ cho bị cáo cả. Quân đội bảo vệ tòa án và những người tham dự đều là những người do Cộng sản sắp đặt trước, hò hét khuyến khích người đóng vai "công tố", bằng cách chửi rủa hoặc tố cáo thêm những “tội ác”.

4- Hậu quả của cải cách ruộng đất:

Cộng sản độc quyền đất đai: Theo nguồn tin từ phía Liên Xô, cuộc Cải cách Ruộng đất đã tịch thu 702,000 mẫu tây ruộng đất, 1,846,000 nông cụ, 107,000 trâu bò, 22,000 tấn thực phẩm. Tất cả những thứ đó đã được chia lại cho 1,500,000 gia đình nông dân và bần nông. Như thế mỗi gia đình nhận được 0,46 mẫu tây, một nông cụ, và những gia đình 13 người mới nhận được một con trâu hay bò. Theo tác giả Bernard Fall, một gia đình nông dân bốn người cần có ít nhất 1,5 mẫu tây để bảo đảm đời sống, đó là chưa kể đến thuế nông nghiệp phải đóng hằng năm.(Bernard Fall, sđd. tt. 271, 282).

Hoặc tài liệu của đảng cộng sản trích trong cuốn: (Những điều cần nhìn lại sau CCRĐ- NXB Văn hóa- của ĐCSVN): Cải cách Ruộng đất đã tịch thu của bọn địa chủ và cường hào 760,000 mẫu ruộng đất canh tác, 112,000 con trâu bò và gia súc, 26,000 tấn thực phẩm, lương thực….

Sự phân chia đất đai theo đơn vị gia đình, dựa trên số thành viên thực sự lao động và không dựa trên giới tính. 

Tuy chia đất cho nông dân, nhưng sau cuộc CCRĐ, Cộng sản tổ chức những hợp tác xã nông nghiệp, và ép nông dân phải gia nhập hợp tác xã nông nghiệp. Quá khiếp sợ trước cảnh tra tấn trong CCRĐ, không một nông dân nào dám phản đối. Thế là tất cả nông dân phía bắc vĩ tuyến 17 đều phải gia nhập hợp tác xã nông nghiệp. Khi vào hợp tác xã, ruộng đất riêng tư của nông dân đều phải nạp cho hợp tác xã, và trở thành ruộng đất tập thể của hợp tác xã. Thế là chẳng những số đất đã được chia, mà cả đất đai do cha ông để lại, cũng đều bị lọt vào tay hợp tác xã, tức vào tay nhà cầm quyền Cộng sản. Toàn thể nông dân nay trở thành vô sản, và nhà cầm quyền Cộng sản trở thành chủ nhân ông độc quyền của tất cả ruộng đồng nông thôn. Thật là một tiến trình cướp đất rất hoàn hảo, mà không một nông dân nào dám lên tiếng tố cáo.

Số lượng người bị giết: Những địa chủ “Việt gian” hay địa chủ “cường hào ác bá” đều bị tử hình. Trong trường hợp họ đã qua đời trước đó lâu ngày, vợ con họ bị đem ra xét xử và kết quả không khác. Những địa chủ Việt Nam Quốc Dân đảng (Việt Quốc) hay Việt Nam Cách mạng Đồng minh hội (Việt Cách), dầu đã theo Việt Minh tham gia kháng chiến cũng bị tử hình. Những địa chủ các đảng bù nhìn của chế độ Hà Nội như đảng Dân chủ, đảng Xã hội cũng chịu y số phận. 

Khi bị tử hình, bản án tử hình được thi hành ngay tại chỗ bằng nhiều cách: bị bắn, bị trấn nước chết, bị phơi nắng (không được ăn uống), hoặc bị đánh đập cho đến chết. Nhiều khi nạn nhân qua đời, thân nhân không được cho phép chôn cất, xác bị để phơi nắng mưa. Gia đình quá đau lòng, phải hối lộ các chức việc, rồi ban đêm đến ăn cắp xác đem đi chôn. 

Dựa vào tài liệu các nước ngoài, giáo sư Lâm Thanh Liêm, cho rằng số người bị giết trong cuộc CCRĐ năm 1955-1956 ở Bắc Việt có thể lên đến từ 120,000 đến 200,000 người(Lâm Thanh Liêm, bđd., sđd. tt. 203-204).

Theo sách Lịch sử Kinh tế Việt Nam 1945-2000 tập 2, viết về giai đoạn 1955-1975, xuất bản tại Hà Nội năm 2004 (tài liệu mới của nhà nước cộng sản Việt Nam) cho biết cuộc CCRĐ đợt 5 (1955-1956) được thực hiện ở 3,563 xã, có khoảng 10 triệu dân, và tổng số người bị sát hại trong CCRĐ đợt nầy lên đến 172,008 người, trong đó có 123,266 người (71,66%) sau này được xác nhận đã bị giết oan

Nền nông nghiệp bị suy sụp: Thông thường, nhà cầm quyền tổ chức CCRĐ nhắm giải quyết những sai lầm của nền nông nghiệp cũ, giúp nông gia tăng gia sản lượng nông nghiệp, thăng tiến đời sống dân chúng. Nhưng cuộc CCRĐ của Cộng sản chấm dứt năm 1956 lại đi đến kết quả ngược lại: đời sống nông dân tụt hậu, sản lượng giảm xuống rõ rệt. Lý do vì trong các giai đoạn đầu của cuộc Cải cách, đất đai bị chia thành nhiều mảnh nhỏ. Nông dân mới nhận đất chưa có kinh nghiệm tổ chức sản xuất, thiếu tài chánh để mua trâu bò dụng cụ, phân bón để cày cấy. Sau đó, vào cuối giai đoạn 5, việc suy sụp kéo dài nhiều năm vì nhà nước Cộng sản đưa ra kế hoạch hợp tác lao động, tổ chức hợp tác xã nông nghiệp và những nông trường quốc doanh tập thể từ khoảng năm 1957, 1958. (Bernard Fall, sđd. tt. 284-287). 

Đảo lộn luân lý xã hội, tiêu diệt tình người: Chiến dịch CCRĐ của Cộng sản đã khủng bố tinh thần dân chúng, làm cho mọi người sợ hãi khép mình vào kỷ luật cai trị Cộng sản, và nhất là đánh tan nề nếp xã hội cũ, làm sụp đổ nền tảng luân lý cổ truyền của dân tộc, tiêu diệt tận gốc rễ tình cảm giữa người với người. Trong khi quyết tâm thực hiện phương châm “trí phú địa hào, đào tận gốc, trốc tận ngọn” (nghĩa là tiêu diệt từ trên xuống dưới bốn thành phần trí thức, phú thương, địa chủ, cường hào), Cộng sản đã khuyến khích, ép buộc, đe dọa mọi người tố cáo, đấu tố lẫn nhau, dù đó là cha mẹ, vợ chồng, con cái. Do đó, chẳng những đã xảy ra cảnh đấu tố giữa người với người ngoài xã hội, mà trong gia đình cũng xảy ra cảnh đấu tố với nhau giữa cha mẹ, con cái, vợ chồng, và anh chị em. 

Dư luận lúc đó ở Hà Nội còn cho rằng, một nhà lãnh đạo khác của đảng Lao động, tổng bí thư Trường Chinh Đặng Xuân Khu, đã đấu tố cả cha mẹ của ông ta. Vì vậy, ở Hà Nội lưu truyền một câu đối hết sức bất hủ: “Đấu tố phụ mẫu, tôn thờ Mác-Lê, nhục ấy đời chê thằng họ Đặng/ Hãm hại sĩ nông, đảo điên văn hóa, tội kia sách chép đứa tên Khu.”


B. Kẻ chủ mưu thực sự là ai?

Trên thực tế cuộc cải cách ruộng đất đã thất bại và là một tội ác của cộng sản. Tuy nhiên từ trước tới nay chúng ta thường biết đến Trường Chinh và các thuộc cấp của ông ta là thủ phạm. Vì lúc đó ông Trường Chinh đang là Tổng bí thư đảng Lao động. Nhưng những dẫn chứng sau đây sẽ làm sáng tỏ ai là kẻ chủ mưu thực sự.

1. Người viết ra cương lĩnh hành động làm tiền đề cho CCRĐ:

Ông Hồ Chí Minh đã hiểu rất rõ nguyện vọng "người cày có ruộng" của nông dân Việt Nam. Khi còn ở Pháp ông có viết một số bài lên án việc chiếm hữu đất đai của thực dân Pháp và của nhà thờ Công giáo. Trong thời gian hoạt động tại Trung Hoa, ông ta tiếp nhận và để tâm nghiên cứu cách mạng thổ địa tại đây. Nó vừa là một phương tiện đấu tranh giai cấp, vừa để xây dựng chuyên chế vô sản. Trong một lá thư gởi các lãnh đạo Quốc tế Nông dân đề ngày 08/02/1928, ông viết: "Tôi tranh thủ thời gian viết 'những ký ức của tôi' về phong trào nông dân, chủ yếu là phong trào Hải Lục Phong, nơi có các xô-viết nông dân. Người 'anh hùng' trong 'những ký ức của tôi' chính là đồng chí Bành Bái, cựu Dân ủy nông nghiệp của Xô-viết Quảng Châu và hiện là lãnh tụ của nông dân cách mạng". (Hồ Chí Minh Toàn tập, tập 2 trang 265). Năm 1953 tại Hội nghị nông hội và dân vận toàn quốc, ông lại nhắc đến : "... đồng chí Bành Bái ở Trung quốc, gia đình đồng chí là đại địa chủ, đại phong kiến, nhưng đồng chí ấy đã tổ chức và lãnh đạo nông dân đấu tranh rất quyết liệt chống địa chủ phong kiến" (Hồ Chí Minh Toàn tập, tập 2 trang 357). 

Năm 1930, Đảng Cộng sản Đông Dương (tiền thân của Đảng cộng sản Việt Nam) được thành lập. Cương lĩnh của đảng này là lấy việc chống đế quốc, chống phong kiến và địa chủ, giành ruộng đất về cho nông dân làm sách lược hàng đầu. Sách lược thứ hai của Đảng cộng sản ghi rõ: "Đảng phải thu phục cho được đại đa số dân cày và phải dựa vững vào hạng dân cày nghèo, phải hết sức lãnh đạo cho dân cày nghèo làm thổ địa cách mạng đánh trúc bọn đại địa chủ và phong kiến" (Hồ Chí Minh Toàn tập, tập 2 trang 297). Chương trình hành động thì hướng đến việc: "Đảng tập hợp đa số quần chúng nông dân, chuẩn bị cách mạng thổ địa và lật đổ bọn địa chủ và phong kiến" (Hồ Chí Minh Toàn tập, tập 2 trang 299). Chúng ta nên nhớ Các văn kiện thành lập ĐCS Đông Dương đều do Hồ Chí Minh, đại diện Quốc tế Cộng sản, soạn ra. 

Ít tháng sau, ĐCS đã lãnh đạo nông dân nổi dậy ở nhiều nơi, đặc biệt là ở Nghệ An và Hà Tĩnh. Khẩu hiệu "trí - phú - địa - hào, đào tận gốc, trốc tận rễ" được dùng làm tiêu đề cho cuộc đấu tranh mới - đấu tranh triệt tiêu giai cấp địa chủ và phong kiến. 

Kết luận: Ông Hồ Chí Minh là người chỉ ra đường lối của CCRĐ đẫm máu. Ông ta là người phát biểu và người viết các cương lĩnh hoạt động cho đảng cộng sản. Vậy tội của ông ta có thể xem là chủ mưu. Tuy nhiên để rõ ràng hơn xin bạn đọc chú ý các ý sau đây.

2. Những hành động cụ thể: 

Ngày 25/01/1953, tại Hội nghị lần thứ tư của Ban Chấp hành Trung ương Đảng Lao động, Hồ Chí Minh chủ tọa, đọc báo cáo đề ra nhiệm vụ phát động quần chúng triệt để giảm tô, thực hiện giảm tức, đấu tranh chống giai cấp địa chủ phong kiến, tiến đến CCRĐ. 

Ngày 12/04/1953 Hồ Chí Minh ban hành Sắc lệnh số 150 /SL về Cải Cách Ruộng Đất, tịch thu ruộng đất của thực dân Pháp và địa chủ phản động chia lại cho nông dân nghèo. 

Ngày 14/11/1953, Hội nghị lần thứ 5 Ban Chấp hành Trung ương và Hội nghị toàn quốc của Đảng Lao động đã quyết định tiến hành CCRĐ. 

Trong báo cáo trước Quốc hội khóa I kỳ họp lần thứ ba, ông Hồ đã phát biểu "Phương châm của Cải Cách Ruộng Đất là: phóng tay phát động quần chúng nông dân" (Hồ Chí Minh Toàn tập, tập 6 trang 509). Hành động kêu gọi “ phóng tay” chính là sự cổ vũ giết người của Hồ Chí Minh.

Cũng trong báo cáo trước Quốc hội này, Hồ Chí Minh đã ra chỉ tiêu: "Giai cấp địa chủ phong kiến không đầy 5 phần trăm dân số, mà chúng và thực dân chiếm hết 7 phần 10 ruộng đất .."(Hồ Chí Minh Toàn tập, tập 6 trang 509). Chính chỉ tiêu này đã giết hại không biết bao con người vô tội.

Vụ Việc bà Nguyễn Thị Năm:

Trong thời gian tiến hành giảm tô tiến đến CCRĐ, sáu xã tại huyện Đại Từ tỉnh Thái Nguyên đã được chọn làm thí điểm. Người đầu tiên bị mang ra xử bắn là bà Nguyễn Thị Năm. Bà còn được gọi là bà Cát Hanh Long. Bà là người đã che giấu và nuôi dưỡng các lãnh đạo cộng sản như Trường Chinh, Hoàng Quốc Việt, Phạm Văn Đồng, Lê Đức Thọ, Lê Thanh Nghị, Lê Giản... trong thời gian Đảng cộng sản còn hoạt động bí mật. Hai con trai bà, ông Nguyễn Công và ông Nguyễn Hanh đều theo Việt Minh từ trước 1945. Khi CCRĐ được phát động, ông Nguyễn Công đang làm chính ủy trung đoàn và ông Nguyễn Hanh là đại đội phó bộ đội thông tin. 

Trong Hồi ký “Làm người rất khó, làm người xã hội chủ nghĩa khó hơn”nguyên Phó thủ tướng CHXHCN Việt Nam, ông Đoàn Duy Thành cho biết việc bà Năm bị bắn đã làm xôn xao dư luận. Ông cho rằng việc làm này có 3 điều làm sai chính sách là: 

(1) Địa chủ kháng chiến được chiếu cố; 
(2) Địa chủ kiêm công thương được chiếu cố; 
(3) Địa chủ hiến ruộng được chiếu cố. Và một điều sai đạo lý là "... bắn một địa chủ là nữ, không phải là cường hào gian ác sẽ trái đạo lý thông thường của người Việt Nam"

Ông viết tiếp: "Sau này khi sửa sai CCRĐ xong, tôi được nghe nhiều cán bộ cao cấp nói lại: 'Khi chuẩn bị bắn Nguyễn Thị Năm, Bác Hồ đã can thiệp và nói đại ý: ‘ Chẳng lẽ CCRĐ không tìm được một tên địa chủ, cường hào gian ác là nam giới mà mở đầu đã phải bắn một phụ nữ địa chủ hay sao?’ Nhưng cán bộ thừa hành báo cáo là đã hỏi cố vấn Trường Chinh và được trả lời là: 'Hổ đực hay hổ cái, đều ăn thịt người cả!'. Và thế là cái chết đã đến với bà Năm.

Trong hồi ký “Những kỷ niệm về Bác Hồ”, nguyên Tổng biên tập báo Nhân Dân, ôngHoàng Tùng cho biết: "Chọn địa chủ Nguyễn Thị Năm để làm trước là do có người mách cho cố vấn Trường Chinh. Họp Bộ Chính trị Bác nói: 'Tôi đồng ý người có tội thì phải xử thôi, nhưng tôi cho là không phải đạo nếu phát súng đầu tiên lại nổ vào một người đàn bà, mà người ấy lại cũng giúp đỡ cho cách mạng, người Pháp nói không nên đánh vào đàn bà, dù chỉ là đánh bằng một cành hoa.' Sau cố vấn Trường Trinh là Lê Quý Ba đề nghị mãi, Bác nói: 'Tôi theo đa số, chứ tôi vẫn cứ cho là không phải.' Và họ cứ thế làm". 

Trước hết ông Hồ Chí Minh có lỗi lớn. Thà rằng không biết gì về chuyện này, và dù không biết, là chủ tịch nước, chủ tịch Đảng ông cũng phải chịu phần trách nhiệm. Huống hồ ông đã biết rõ cụ thể, ông nhận định là bà Năm bị xử trí oan, thế mà ông giữ im lặng, ông không can thiệp. Đây là thái độ vô trách nhiệm. 

Bài thơ “Địa chủ ác ghê”:

Trong tập tài liệu Phát động quần chúng và tăng gia sản xuất của tác giả C. B. do báo Nhân Dân xuất bản năm 1955, trang 27 và 28, có bài "Địa chủ ác ghê". Bài viết này đã được đăng trên báo Nhân Dân ngày 21 tháng 7 năm 1953 và phổ biến lại trong tập liệu này. Đúng như nhà báo Thành Tín(ông Bùi Tín) cho biết, "các phóng viên báo chí các nhà văn hạ phóng tham gia cải cách đã viết sẵn bài tố cáo, lên án, kết tội bà Năm rồi". Nhân tiện người viết xin được đăng toàn bài để bạn đọc có thể cùng suy ngẫm. 

Địa chủ ác ghê 

Thánh hiền dạy rằng: "Vi phú bất nhân". Ai cũng biết rằng địa chủ thì ác: như bóc lột nhân dân, tô cao lãi nặng, chây lười thuế khóa - thế thôi. Nào ngờ có bọn địa chủ giết người không nháy mắt. Đây là một thí dụ: 

Mụ địa chủ Cát-hanh-Long cùng hai đứa con và mấy tên lâu la đã:
- Giết chết 14 nông dân. 

- Tra tấn đánh đập hằng chục nông dân, nay còn tàn tật. 

- Làm chết 32 gia đình gồm có 200 người - năm 1944, chúng đưa 37 gia đình về đồn điền phá rừng khai ruộng cho chúng. Chúng bắt làm nhiều và cho ăn đói. Ít tháng sau, vì cực khổ quá, 32 gia đình đã chết hết, không còn một người. 

- Chúng đã hãm chết hơn 30 nông dân - Năm 1945, chúng đưa 65 nông dân bị nạn đói ở Thái Bình về làm đồn điền. Cũng vì chúng cho ăn đói bắt làm nhiều. Ít hôm sau, hơn 30 người đã chết ở xóm Chùa Hang. 

- Năm 1944-1945, chúng đưa 20 trẻ em mồ côi về nuôi. Chúng bắt các em ở dưới hầm, cho ăn đói mặc rách, bắt làm quá sức lại đánh đập không ngớt. Chỉ mấy tháng, 15 em đã bỏ mạng. 

Như chúng ta đã biết Báo Nhân Dân là cơ quan tuyên truyền của Trung ương Đảng Lao động Việt Nam, bài báo phải được duyệt xét kỹ của Trung ương Đảng trước khi cho phổ biến. Khi đọc bài báo này, người viết cảm nhận một điều là bố cục, hình thức và văn phong của bài viết rất tương tự với bản "Tuyên ngôn Độc lập" do Hồ Chí Minh đọc tại quảng trường Ba Đình ngày 02/09/1945, phần lên án thực dân Pháp. 

Tập tài liệu Phát động quần chúng và tăng gia sản xuất ghi rõ tên tác giả các bài viết trong đó là C. B. - đây là một trong những bút hiệu của Hồ Chí Minh. Chỉ riêng trong tập 6 (từ 01/1951 đến 07/1954) của bộ sách Hồ Chí Minh Toàn tập do nhà xuất bản Sự Thật Hà Nội in năm 1989, người viết đã đếm được tất cả 15 bài viết của Hồ Chí Minh ký tên là C. B. 

Mặc dù bài viết này không được nhắc đến trong bộ sách Hồ Chí Minh Toàn tập. Tuy nhiên trong Hồ Chí Minh biên niên tiểu sử tập 5 trang 418 (Sách của nhà xuất bản Sự thật- ĐCS VN) ghi rõ: "Bài viết của Chủ tịch Hồ Chí Minh: Địa chủ phản động ác ghê, ký bút danh Đ. X. đăng trên báo Cứu Quốc, số 2459 (ngày 02/11/1953), tố cáo tội ác của một số địa chủ phản động đã cấu kết với thực dân và bù nhìn để phản dân, phản nước, mưu phá hoại chính sách ruộng đất của Chính phủ. Chúng là bọn ‘mặt người dạ thú’ và tội ác của chúng là ‘tuyệt vô nhân đạo’". Như vậy Có thể kết luân bài viết của ông Hồ trên báo Nhân Dân đã được đăng lại trên báo Cứu Quốc. 

Ông Hồ Chí Minh gọi cuộc tắm máu nhân dân là “Chiến thắng”:

Trong hội nghị “Tổng kết thành tích Cải cách nông nghiệp đợt 5”, Hồ Chí Minh đã gởi văn thư đề ngày 1-7-1956 cho đoàn cán bộ CCRĐ, trong đó có đoạn viết: “Bác thay mặt Đảng và chính phủ gởi lời an ủi gia đình những cán bộ đã hy sinh vì nhiệm vụ, đợt 5 Cải cách Ruộng đất rất gay go, phức tạp. Song nhờ chính sách đúng đắn của Đảng và chính phủ, nhờ nông dân hăng hái đấu tranh nên chính sách Cải cách Ruộng đất đã thu được thắng lợi to lớn… Giai cấp địa chủ đã bị đánh đổ, các tổ chức ở xã đã được trong sạch hơn v. v… và bản thân cán bộ được thử thách, rèn luyện…"

Trong một lá thư, đề ngày 18/08/1956, gởi đến "đồng bào nông thôn" nhân dịp CCRĐ căn bản đã hoàn thành, Hồ Chí Minh xác định CCRĐ là "một thắng lợi vô cùng to lớn" và "có thắng lợi này là nhờ Đảng và Chính phủ ta có chính sách đúng đắn". Ông viết tiếp: "Cải Cách Ruộng Đất là một cuộc đấu tranh giai cấp chống phong kiến, một cuộc cách mạng long trời lở đất, quyết liệt gay go. Lại vì kẻ địch phá hoại điên cuồng; vì một số cán bộ ta chưa nắm vững chính sách, chưa thực đi đúng đường lối quần chúng; vì sự lãnh đạo của Trung ương Đảng và Chính phủ có chỗ thiếu cụ thể, thiếu kiểm tra đôn đốc, cho nên khi CCRĐ đã xảy ra những khuyết điểm sai lầm" (Hồ Chí Minh Toàn tập, tập 7, trang 507). Riêng việc "kẻ địch phá hoại điên cuồng" đã được ông giải thích như sau: "Như con giun không biết nhảy, khi ta giẫm lên nó, nó cũng giãy trước khi chết. Giai cấp địa chủ cũng thế". (Hồ Chí Minh Toàn tập, tập 7, trang 358). 

Vài năm sau, nhân kỷ niệm 30 năm ngày thành lập ĐCSVN, 06/01/1960, Hồ Chí Minh lại gắn liền cuộc kháng chiến chống Pháp và cuộc CCRĐ, ông tuyên bố: "Buổi đầu kháng chiến, Đảng vẫn tiếp tục thực hiện chính sách giảm tô, giảm tức. Nhưng đến lúc kháng chiến đã phát triển mạnh, cần phải bồi dưỡng hơn nữa lực lượng nhân dân, chủ yếu là nông dân thì Đảng đã cương quyết phát động quần chúng Cải Cách Ruộng Đất hoàn thành thực hiện người cày có ruộng. Nhờ chính sách đúng đắn này, lực lượng kháng chiến ngày càng mạnh thêm và đã liên tục thu được nhiều thắng lợi" (Hồ Chí Minh Toàn tập, tập 8, trang 596). 

Kết luận: Trong quá trình thực hiện thể hiện bằng bài thơ, vụ án bà Năm hay các tuyên bố về CCRĐ coi là “thắng lợi” sau này, bài thơ “Địa chủ ác ghê” đã chứng tỏ ông Hồ Chí Minh coi CCRĐ là một chuyện bình thường chứ không ân hận về sai lầm như báo chí cộng sản. Bản chất của CCRĐ là màn kịch đẫm máu ông Hồ học ở Trung cộng về và những giọt nước mắt ông ta khóc sau này chỉ là “nước mắt cá sấu”.

3. Điểm vô lý: 

Về mặt hành chính, ngày 2-11-1956, báo Nhân Dân đăng thông báo của Hội đồng Chính phủ, theo đó:

- Ủy ban CCRĐ không có quyền chỉ đạo nữa, mọi việc sẽ thuộc chính phủ trung ương.

- Hủy bỏ Tòa án Nhân dân đặc biệt (tức tòa án chuyên đấu tố).

- Hồ Viết Thắng thôi chức Phó chủ nhiệm và Ủy viên thường trực Ủy ban CCRĐ Trung ương, cũng như Thứ trưởng Nông lâm.

- Lê Văn Lương thôi chức Thứ trưởng bộ Nội vụ và Chủ nhiệm phòng Nội chính Chính phủ.(Chính Đạo, I-C, sđd. tr. 106.)

Tuy thế, chẳng bao lâu sau, Trường Chinh được cử làm Phó thủ tướng (29-4-1958), rồi Chủ tịch Ủy ban thường vụ Quốc hội (7-7-1960). Hoàng Quốc Việt lẫn Lê Văn Lương về sau vẫn tiếp tục giữ những chức vụ quan trọng trong guồng máy cầm quyền Hà Nội, còn Hồ Viết Thắng sau đổi tên là Hồ Thắng, làm thứ trưởng bộ Nông nghiệp. 

Những điều đó chứng tỏ các người này chỉ là những kẻ thừa hành chủ trương chính sách của đảng Lao động lúc đó. Khi chủ trương đó bị dân phản đối, họ bị làm vật hy sinh để chống đỡ và cứu nguy cho đảng, tạm thời bị huyền chức một thời gian, rồi được trọng dụng trở lại. Nếu các kẻ này mà tự ý làm sai trái chủ trương của đảng Lao động, nếu không bị thủ tiêu hoặc tù tội, thì cũng bị loại luôn, mà không bao giờ trở lại được chính trường, như trường hợp Dương Bạch Mai... trong vụ án mà cộng sản gọi là “Vụ án Tổ chức chống Đảng, chống Nhà nước ta, đi theo chủ nghĩa xét lại hiện đại và làm tình báo cho nước ngoài”.

Kết luận: Ông Hồ Chí Minh đã dùng những “kẻ thế thân” để trốn tránh tội ác của mình. Thực ra ông ta là kẻ chủ mưu và chạy tội khi bị nhân dân lên án. 


Nhận xét chung: 

Cải cách ruộng đất là một cuộc hành quyết đẫm máu nhân dân vô tội. Nó không những ảnh hưởng đến đời sống nhân dân mà còn ảnh hường lâu dài đến kinh tế cũng như nền tảng đạo đức.

Sự thực tôi đã chứng minh ở 3 luận điểm: Ông Hồ là người vạch ra cương lĩnh của đảng, của CCRĐ. Sự việc cụ thể khi ông xử án bà Năm, bài báo “Địa chủ ác ghê” và những tuyên bố sau CCRĐ, sự vô lý trong việc “xử lý” những người được cho là có tội trong CCRĐ chứng tỏ một điều: Nếu thực sự ông ta “ân hận” như đã nói thì chắc chắn ông ta không tuyên bố “CCRĐ là thắng lợi” và những vị như Trường Chinh… không bao giờ có thể ngóc đầu dậy sau biến cố đó được.

Khẳng định: CCRĐ là do ông Hồ chủ trương và điều hành. Ông là thủ phạm đứng đầu trong một chiến dịch bắt chước toàn bộ theo mô hình lẫn cố vấn tại chỗ của đảng cộng sản Trung Quốc, dẫn đến cái chết của gần 200,000 người dân vô tội và phá hủy toàn bộ những giá trị đạo đức, quan hệ giữ người và người mà hệ quả đã kéo dài cho mãi đến ngày hôm nay. 

Chỉnh sửa và hoàn thiện: 18/06/2012